sn-bac
Chỉ số kinh tế:
Ngày 4/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.605 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.375/26.835 đồng/USD. Tháng 7/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; bảy tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua, tăng ở cả 34 địa phương; số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5%; 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách Nhà nước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0%; chi ngân sách Nhà nước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%; nhập siêu 20,52 tỷ USD; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 104,7 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 138,6 tỷ USD. CPI bảy tháng tăng 4,39%; lạm phát cơ bản tăng 4,19%; vận tải hành khách tăng 18,0%; vận tải hàng hóa tăng 14,9%; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Lần đầu tiên Việt Nam công bố về nhận thức và hành vi của người dân trong lĩnh vực bảo hiểm

Hương Giang
Hương Giang  - 
Ngày 28/5/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) công bố Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ. Qua nghiên cứu cho thấy, người dân Việt Nam ngày càng quan tâm đến lập kế hoạch tài chính, bảo vệ gia đình và chuẩn bị cho các rủi ro dài hạn.
aa

Theo IAV, đây là nghiên cứu do Công ty Nghiên cứu thị trường IFM Research thực hiện với 1.265 người tham gia khảo sát trên toàn quốc, bao gồm Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ, tại cả khu vực thành thị và nông thôn.

Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký IAV cho biết, đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Việt Nam chung tay thực hiện một nghiên cứu độc lập về nhận thức và hành vi của người dân trong lĩnh vực này.

Kết quả nghiên cứu của IFM Research cho thấy, có đến 89% người được khảo sát đánh giá bảo hiểm nhân thọ là thiết yếu trong cuộc sống. Tỷ lệ này đạt 91% ở nhóm đang sở hữu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, 86% ở nhóm chưa sở hữu và 91% ở nhóm từng sở hữu. Đây là một tín hiệu tươi sáng, khẳng định bảo hiểm nhân thọ đã và đang được nhận diện rộng rãi như một giải pháp có vai trò quan trọng trong đời sống tài chính của người dân, không chỉ trong nhóm đã tham gia mà cả ở nhóm chưa sở hữu sản phẩm.

Đồng thời, nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ hiểu biết tương đối tích cực của người tham gia khảo sát về bảo hiểm nhân thọ. Theo đó, 58% người tham gia tự đánh giá mình có mức độ hiểu biết cao về bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ này khá đồng đều giữa các nhóm tuổi: 57% ở nhóm 22-29 tuổi, 59% ở nhóm 30-40 tuổi và 58% ở nhóm trên 40 tuổi.

Tuy nhiên những lý do chính khiến bảo hiểm nhân thọ được xem là cần thiết đều gắn với các nhu cầu rất căn bản của mỗi gia đình: 57% người khảo sát cho rằng bảo hiểm nhân thọ giúp bảo vệ trước rủi ro bệnh tật, tai nạn, tử vong; 45% nhấn mạnh vai trò ổn định tài chính cho gia đình.

Thực tế cho thấy, việc chủ động đưa bảo hiểm nhân thọ vào kế hoạch tài chính vẫn còn một khoảng cách nhất định. Thay vì sử dụng bảo hiểm như một công cụ quản lý rủi ro chủ động, phần lớn người dân vẫn duy trì tư duy tài chính mang tính “phòng vệ”. Khi có biến cố, giải pháp đầu tiên họ nghĩ tới là sử dụng tiền tiết kiệm (67%), cắt giảm chi tiêu (53%) hoặc tìm thêm nguồn thu nhập (39%). Điều này phản ánh thực tế rằng bảo hiểm nhân thọ hiện vẫn được nhìn nhận như một lớp bảo vệ bổ sung, chưa phải là giải pháp cốt lõi trong chiến lược tài chính cá nhân.

Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành IFM Research nhận định: Hành vi tài chính của người dân vẫn mang tính phòng vệ là chủ đạo. Mặc dù nhu cầu và đánh giá tích cực đối với BHNT ở mức cao, tỷ lệ sở hữu thực tế vẫn còn thấp. BHNT hiện chủ yếu được nhìn nhận như một lớp bảo vệ tài chính bổ sung, chưa trở thành công cụ quản lý rủi ro cốt lõi hay giải pháp đầu tư dài hạn.

Nghiên cứu cũng chỉ ra động lực mua BHNT chủ yếu đến từ nhu cầu bảo vệ rủi ro, chi trả chi phí y tế và tiết kiệm an toàn; trong khi yếu tố đầu tư ít quan trọng.

Với những người tham gia BHNT, những tiêu chí quan trọng nhất gồm: mức phí phù hợp, uy tín doanh nghiệp, sản phẩm đáp ứng nhu cầu, mức chi trả hợp lý, quyền lợi minh bạch và quy trình bồi thường nhanh. Ngoài ra, nhóm trẻ còn ưu tiên khả năng duy trì hợp đồng lâu dài, trong khi nhóm có con lại chú trọng phạm vi bảo vệ rộng.

Những rào cản chính kéo dài quyết định mua BHNT của người dân gồm: thời gian đóng phí dài, ưu tiên các kênh tiết kiệm/đầu tư khác, khó khăn tài chính hoặc chưa thấy nhu cầu cấp thiết. Riêng nhóm 22-29 tuổi, thiếu tư vấn phù hợp là trở ngại lớn nhất.

Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ ra áp lực tài chính là nguyên nhân chính dẫn đến việc khó duy trì hợp đồng dài hạn. Mức phí đóng trung bình hiện nay đạt khoảng 1,8 triệu đồng/tháng (22 triệu đồng/năm), được xem là rào cản đáng kể khi thu nhập biến động hoặc khi người dân chưa thấu hiểu rõ giá trị thực nhận so với kỳ vọng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hành vi tài chính của người dân chịu tác động rõ rệt bởi vòng đời. Nhóm dưới 30 tuổi ưu tiên mua tài sản lớn, ổn định chi tiêu và hỗ trợ cha mẹ; nhóm 30-40 tuổi tập trung tích lũy cho con cái và đầu tư dài hạn; trong khi nhóm 41+ chú trọng tiết kiệm hưu trí.

Xuyên suốt các nhóm tuổi, tư duy tài chính mang tính phòng vệ là chủ đạo, với ưu tiên xây quỹ dự phòng và bảo đảm an toàn cho gia đình; đầu tư vẫn đóng vai trò thứ cấp.

Mức độ thành thục trong lập kế hoạch tài chính còn thấp. Có đến 83% người tham gia khảo sát có kế hoạch tài chính, trong đó 46% có cả mục tiêu ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, hầu hết chỉ mới nghĩ đến việc lập kế hoạch tài chính mới đây, sau dịch COVID-19, và ít được rà soát.

“Điều này cho thấy người dân đã bắt đầu hình thành thói quen lập kế hoạch nhưng mức độ ‘thành thục’ chưa cao, từ đó đặt ra các yêu cầu về sự cần thiết phải truyền thông giáo dục người dùng về hoạch định tài chính dài hạn và vai trò của BHNT trong chiến lược dự phòng”, nghiên cứu của nhận định.

Điều đáng chú ý, theo nghiên cứu, nhóm trên 30 tuổi có xu hướng lập kế hoạch tài chính nhiều hơn các nhóm khác. Họ cùng với nhóm có con cũng bắt đầu lập kế hoạch sớm hơn và điều chỉnh thường xuyên hơn, cho thấy mức độ chủ động và kỷ luật tài chính cao hơn.

Về sự khác biệt trong hành vi tài chính của người dân ở các khu vực địa lý khác nhau, báo cáo cho thấy người sống ở thành phố loại 1 có tỷ lệ lập kế hoạch tài chính cao hơn, phản ánh mức độ chủ động và ý thức quản lý tài chính rõ rệt. Tuy vậy, thành phố ở miền Nam lại có xu hướng lập kế hoạch dài hạn hơn và bắt đầu sớm hơn, cho thấy tầm nhìn tài chính dài hơi và tư duy tích lũy rõ nét. Trong khi đó, người dân ở thành phố miền Bắc ghi nhận tỷ lệ chỉ lập kế hoạch ngắn hạn cao hơn, thể hiện cách tiếp cận tài chính thực dụng và chú trọng kiểm soát dòng tiền hằng ngày. Ngược lại, nông thôn miền Trung có tỷ lệ chưa xây dựng kế hoạch tài chính cao nhất, thể hiện thói quen hoạch định tài chính còn hạn chế.

Hương Giang

Tin liên quan

Tin khác

Giữ lợi nhuận FDI trong vòng quay đầu tư

Giữ lợi nhuận FDI trong vòng quay đầu tư

Dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư đề xuất hỗ trợ tối đa 2% chi phí tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp FDI, hướng tới đưa lợi nhuận chưa chuyển về nước trở lại đầu tư tại Việt Nam. Ưu đãi này được đề xuất trong bối cảnh vốn thực hiện và vốn bổ sung của các dự án FDI có nhiều diễn biến tích cực trong các quý vừa qua.
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/9

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/9

Tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng, chỉ số VN-Index giảm nhẹ 4,40 điểm hay giá xăng tăng, giá dầu giảm... là một số thông tin kinh tế đáng chú ý trong ngày 3/9.
Cơ cấu lại vốn nhà nước: Giữ đúng chỗ, rút đúng nơi

Cơ cấu lại vốn nhà nước: Giữ đúng chỗ, rút đúng nơi

Theo Công điện số 52/CĐ-TTg ngày 7/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan đại diện chủ sở hữu phải xây dựng, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 trước ngày 31/8/2026. Với những yêu cầu và lộ trình cụ thể, các chuyên gia kỳ vọng việc chuyển dịch cơ cấu sở hữu sẽ diễn ra nhanh và thực chất hơn.
[Infographic] Tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026

[Infographic] Tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,47% so với tháng trước; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD hay tổng thu ngân sách nhà nước tháng Tám ước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng... là một số thông tin đáng chú ý trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng đầu năm 2026 vừa được công bố.
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 24-28/8

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 24-28/8

Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, chỉ số VN-Index tăng mạnh 64,00 điểm so với phiên cuối tuần trước đó hay NHNN bơm ròng 54.893,40 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường... là một số thông tin kinh tế đáng chú ý trong tuần từ 24-28/8.
Trái phiếu địa ốc: Chật vật bài toán đáo hạn

Trái phiếu địa ốc: Chật vật bài toán đáo hạn

Áp lực đáo hạn trái phiếu dự kiến tăng vọt trong quý III và các tháng cuối năm 2026. Nhóm bất động sản tiếp tục là tâm điểm rủi ro khi chiếm phần lớn nghĩa vụ thanh toán giữa bối cảnh chi phí huy động vốn và thanh khoản hẹp.
TP. Hồ Chí Minh hút hơn 10 tỷ USD FDI: Lợi thế nào tạo sức bật?

TP. Hồ Chí Minh hút hơn 10 tỷ USD FDI: Lợi thế nào tạo sức bật?

8 tháng năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI, đạt hơn 91% kế hoạch cả năm. Không gian phát triển mở rộng sau hợp nhất cùng khả năng kết nối ngày càng chặt chẽ giữa sản xuất, dịch vụ, logistics và xuất khẩu đang tạo thêm sức hút cho dòng vốn quốc tế.
Đà Nẵng kỳ vọng hút hàng tỷ USD qua các sản phẩm tài chính mới

Đà Nẵng kỳ vọng hút hàng tỷ USD qua các sản phẩm tài chính mới

Định hướng thu hút nguồn vốn quốc tế cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công nghệ đang được Đà Nẵng đặt lên hàng đầu khi xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẫng (VIFC-DN). Cùng với đó, địa phương đề xuất thí điểm Sở giao dịch hàng hóa và Sàn giao dịch tín chỉ các-bon nhằm mở rộng hệ sinh thái tài chính mới.
‘Định giá’ lại dòng tiền: Chìa khóa khơi vốn, tạo đà tăng trưởng

‘Định giá’ lại dòng tiền: Chìa khóa khơi vốn, tạo đà tăng trưởng

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi không chỉ khơi thông nguồn vốn mà phải phân bổ dòng tiền đúng địa chỉ. Để kinh tế tư nhân bứt phá, tư duy cấp vốn cần vượt qua "cái bóng" của tài sản hữu hình.
Việt Nam không thiếu vốn, chỉ thiếu dự án đủ sức hút vốn

Việt Nam không thiếu vốn, chỉ thiếu dự án đủ sức hút vốn

Dòng vốn quốc tế vào Việt Nam tăng mạnh, nhưng để biến cơ hội thành nguồn lực phát triển, dự án cần pháp lý rõ, cấu trúc minh bạch và khả thi, đó là chia sẻ của ông Neil MacGregor, Tổng Giám đốc Savills Việt Nam.