Năm 2022, khoảng 26.000 căn hộ được tung ra thị trường Hà Nội

16:06 | 11/01/2022

Theo Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam (C&W), năm 2022, thị trường bất động sản Hà Nội dự kiến sẽ sôi động với khoảng 26.000 căn được tung ra.

Sự ra mắt của The Grand Hanoi vào cuối năm 2021 đã thiết lập một mặt bằng giá mới cho thị trường căn hộ Hà Nội. Một số chủ đầu tư uy tín ở miền Nam đã tham gia vào thị trường nhà ở Hà Nội, chẳng hạn như Masterise Homes, Phú Long, Hưng Thịnh. Động thái mở rộng này được kỳ vọng sẽ mang đến nhiều sản phẩm chất lượng cao, cũng như nâng cao mức giá trung bình của thị trường.

nam 2022 khoang 26000 can ho duoc tung ra thi truong ha noi

Thống kê thị trường căn hộ Hà Nội quý IV/2021. (Nguồn: Cushman & Wakefield)

Báo cáo quý IV/2021 của Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam cho thấy, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nguồn cung cao cấp gia nhập thị trường TP.HCM, với những dự án thậm chí có giá bán trên 15.000 USD/m2, trong khi nguồn cung căn hộ cao cấp tại Hà Nội ngày càng hạn chế, dẫn đến sự khác biệt trong hệ thống phân hạng ở hai thành phố.

Tại Hà Nội, hiện căn hộ chung cư phân khúc hạng A thuộc những dự án có vị trí đắc địa có giá bán trên 2.200 USD/m2; hạng B với các căn hộ nằm ở dự án có vị trí thuận lợi có giá bán từ 1.300 - 2.200 USD/m2; hạng C có giá bán dưới 1.300 USD/m2.

nam 2022 khoang 26000 can ho duoc tung ra thi truong ha noi

Ghi nhận tại thị trường căn hộ Hà Nội trong quý IV/2021 cho thấy, bước vào bối cảnh “bình thường mới”, hoạt động mở bán nhanh chóng được thúc đẩy với tổng nguồn cung mới đạt gần 3.600 căn từ 5 dự án mới; cùng đó, các chủ đầu tư đợt mở bán đợt tiếp theo của 20 dự án hiện hữu.

Căn hộ hạng B tiếp tục dẫn đầu với 60% tổng nguồn cung mới trong quý IV/2021, chủ yếu đến từ các dự án hiện hữu cùng với 1 dự án mở bán mới là Trinity Tower.

Hạng C tiếp theo chiếm 35% tổng nguồn cung mới với các dự án mới mở bán như Hausman, T&T DC Complex và Lavender Garden. Trong khi đó, hạng A chiếm 5% còn lại với 1 dự án mở bán mới là The Grand Hanoi.

Dù nguồn cung vẫn hạn chế nhưng lượng hấp thụ căn hộ bán được ghi nhận gần 3.100 căn. Nhu cầu tốt từ cả nhà đầu tư và chủ sở hữu. Hạng B vẫn là phân khúc hấp dẫn nhất với 3/5 tổng lượng giao dịch, chủ yếu bởi việc hấp thụ tốt tại các dự án mới cũng như các dự án của Vinhomes, Masterise Homes và MIKGroup.

Hạng C đóng góp hơn 1/3 tổng lượng giao dịch với lượng hấp thụ nhanh chóng tại các dự án mới. Do nguồn cung mới hạn chế, Hạng A chỉ chiếm 7% tổng lượng chào bán. Trong đó, dự án mới mở bán duy nhất là The Grand Hanoi đã được bán hết ngay từ đợt mở bán đầu tiên của dự án.

Báo cáo quý IV/2021 của Cushman & Wakefield đã chỉ ra, thị trường căn hộ Hà Nội chứng kiến giá bán trung bình tăng đáng kể 20% theo quý và 39% theo năm. Hạng A ghi nhận mức giá trung bình đạt 137,3 triệu đồng/m2, tương đương với 5.927 USD/m2, cao gấp đôi so với quý trước và cùng kỳ năm ngoái, trong đó có một dự án hạng sang có mức giá cao kỷ lục từng được ghi nhận tại thành phố.

Phân khúc hạng B tăng 4% so với quý trước, với 39,5 triệu đồng/m2, tương đương với 1.706 USD/m2. Trong khi đó, Hạng C ghi nhận mức tăng 11% so với quý trước, ở mức 25,8 triệu đồng/m2, tương đương với 1.112 USD/m2. Tính theo năm, cả Hạng B và C đều ghi nhận mức tăng cao 14% và 16% do sự gia nhập của các dự án giá cao cũng như sự tăng giá của các dự án có sức hấp thụ tốt.

Trong cả năm 2021, GRDP của Hà Nội đạt 2,92%, thấp hơn mức 4,18% vào năm 2020, do chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của Covid-19. Tuy nhiên, tổng vốn FDI đạt 1,5 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Thành phố cũng hoàn thành nhiều dự án hạ tầng trọng điểm như tuyến metro Cát Linh - Hà Đông (tuyến 2A), nút giao thông vành đai 3 Hà Nội với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750