Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp với các bộ ngành, triển khai Chương trình phục hồi kinh tế hiệu quả

16:42 | 07/01/2022

Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu tại phiên Thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội chiều nay (7/1), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để tổ chức triển khai Chương trình hiệu quả, theo như ý kiến gợi ý của các đại biểu Quốc hội đã nêu.

ngan hang nha nuoc se phoi hop voi cac bo nganh trien khai chuong trinh phuc hoi kinh te hieu qua
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại phiên thảo luận 

Báo cáo giải trình một số vấn đề đại biểu quan tâm về dư địa chính sách tiền tệ (CSTT) và vấn đề lượng hóa CSTT, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, theo tinh thần của nghị quyết Trung ương, nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ và trong bài phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội cũng đã nêu chương trình này là các chính sách bổ sung ngoài khung khổ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, cũng như thực hiện đề án tái cơ cấu của nền kinh tế trong 5 năm. Vì vậy, trong quá trình thiết kế chính sách, Chính phủ đã cân nhắc hết sức kỹ lưỡng và trên cơ sở đánh giá tổng thể dư địa của các chính sách trong các chương trình.

Theo đó, khi triển khai chương trình tái cơ cấu TCTD, trong đó có tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, Chính phủ đã trình các cấp có thẩm quyền cho sử dụng dư địa của CSTT. Bởi vậy trong chương trình này, dư địa CSTT ít và chủ yếu dựa vào chính sách tài khóa. Yêu cầu khi thực hiện chương trình này là phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Thống đốc cho biết, khi thực hiện đưa tiền ra qua chính sách tài khóa, Chính phủ đã cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo sự linh hoạt của CSTT. Bởi do CSTT có bản chất là ngắn hạn nên NHNN sẽ theo dõi sát diễn biến của kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế và sẽ có sự điều chỉnh linh hoạt để làm sao đảm bảo được mục tiêu là thực hiện Chương trình nhưng vẫn đảm bảo được kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

“Do tính chất ngắn hạn của CSTT, bởi vậy, cần sự linh hoạt theo sát diễn biến của thị trường, cho nên có lúc phải đưa tiền ra nhưng cũng có lúc phải hút tiền về. Chính vì vậy, tại thời điểm xây dựng Chương trình này, khó có thể lượng hóa được bao nhiêu là lượng tiền đưa ra từ CSTT”, Thống đốc cho biết.

Đối với những vấn đề cụ thể mà đại biểu Quốc hội quan tâm như giảm lãi suất, Thống đốc cho biết, đây là vấn đề mà doanh nghiệp và đại biểu Quốc hội rất quan tâm. Ngành Ngân hàng cũng coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành. Ngay sau khi dịch Covid-19 bùng phát, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung giảm nhanh 3 lần với lãi suất điều hành cũng như chỉ đạo các TCTD và điều tiết tiền tệ để giảm mặt bằng lãi suất cho vay trong năm 2020 khoảng 1%, năm 2021 tiếp tục giảm khoảng 0,8%.

Trên thực tế NHNN cũng động viên, khuyến khích, kêu gọi các TCTD miễn, giảm lãi vay và giảm phí. Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến nay, toàn hệ thống các TCTD giảm cả lãi, cả phí khoảng gần 40.000 tỷ đồng từ chính nguồn tài chính của TCTD để hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân.

Giải thích vì sao NHNN chỉ là động viên, khuyến khích mà không sử dụng mệnh lệnh hành chính, Thống đốc cho biết, theo quy định của pháp luật Ngân hàng Nhà nước không thể quy định bắt buộc các TCTD phải giảm lợi nhuận để giảm chi phí lãi vay. Bởi trong TCTD cũng có những TCTD có cổ đông là người nước ngoài. Chính vì vậy trong quá trình điều hành, NHNN cũng điều hành linh hoạt các công cụ, đồng thời cũng động viên và kêu gọi TCTD và nhận được sự đồng thuận rất cao.

Theo Thống đốc, trong bối cảnh hiện nay, lạm phát trên thế giới có xu hướng gia tăng, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã bắt đầu thu hẹp CSTT và tăng lãi suất. Trong bối cảnh xu hướng thế giới tăng lãi suất lên, nền kinh tế của chúng ta lại đặt yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất thì đây là một vấn đề “thực sự” khó khăn.

Tuy nhiên, trong xây dựng Chương trình phục hồi này, Chính phủ cũng đã cân nhắc và để đưa ra một số giải pháp để phấn đấu hệ thống TCTD giảm từ 0,5 đến 1% lãi suất trong 2 năm.

Đối với một số công cụ khác như sử dụng dự trữ bắt buộc như một số đại biểu Quốc hội gợi ý, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp thu, trong quá trình điều hành sẽ điều hành linh hoạt, bởi vì nguồn lực này có lúc tăng, lúc giảm.

“Hiện tại, nguồn dự trữ bắt buộc này Ngân hàng Nhà nước chưa sử dụng vì hiện nay thanh khoản của hệ thống đang dư thừa, nên chúng tôi cũng sẽ linh hoạt điều hành theo ý kiến gợi ý của các đại biểu Quốc hội”, Thống đốc cho hay.

Đối với gói hỗ trợ 40.000 tỷ đồng lãi suất, Thống đốc cho biết đây là nguồn tiền từ nguồn ngân sách, tiền cho vay sẽ là tiền huy động của TCTD từ người dân. Trong quá trình điều hành, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ điều tiết làm sao để tạo thuận lợi cho TCTD có nguồn cung tín dụng, đáp ứng được nhu cầu cho gói này.

“Đặc biệt tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội trong quá trình triển khai Chương trình trong thời gian tới, trong quá trình hướng dẫn, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan theo phân công của Chính phủ tại phụ lục kèm theo, tập trung vào xác định các đối tượng có trọng tâm, trọng điểm và khắc phục những hạn chế của những gói hỗ trợ trước”, Thống đốc nhấn mạnh.

Về vấn đề huy động nguồn lực, Thông đốc cho biết, khi huy động nguồn lực thì chủ yếu là từ nguồn trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Điều này đòi hỏi sự phối hợp rất chặt chẽ của CSTT với tài khóa .

Liên quan đến tăng vốn điều lệ của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Thống đốc cho biết, việc tăng vốn cho Agribank cũng như các NHTM nhà nước có vốn nhà nước chi phối là rất cần thiết. Bởi lẽ, so với các nước, tiềm lực vốn của các ngân hàng Việt Nam còn thấp. Trong những năm qua, các NHTM cổ phần đã tăng vốn điều lệ khá mạnh mẽ, nhưng các NHTM nhà nước có cổ phần chi phối tăng lên khiêm tốn. Do vậy, trong chương trình này cũng đặt ra vấn đề tăng vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước để nuôi dưỡng nguồn thu.

Riêng đối với Agribank, Thống đốc cho biết, vì đây là ngân hàng 100% vốn của nhà nước. Theo quy định của pháp luật, đây thuộc dự toán thu, chi ngân sách, nên thuộc thẩm quyền của Quốc hội quyết định, còn các ngân hàng thuộc thẩm quyền Chính phủ nếu dưới 10.000 tỷ đồng.

Trần Hương

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.274 23.789 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.540 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.400
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.400
67.400
Vàng SJC 5c
66.400
67.420
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.600
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.200