Ngân hàng ưu tiên nguồn vốn rẻ cho nông nghiệp công nghệ cao

08:43 | 18/12/2020

Tại Diễn đàn “Phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao”, bà Hà Thu Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông tin, chỉ riêng trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hiện nay tối đa là 4,5%/năm – thấp hơn nhiều so với các lĩnh vực khác và là mức thấp nhất từ trước tới nay.

ngan hang uu tien nguon von re cho nong nghiep cong nghe cao Đẩy mạnh cho vay nông nghiệp công nghệ cao
ngan hang uu tien nguon von re cho nong nghiep cong nghe cao Hơn 17.000 khách hàng vay vốn sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch
ngan hang uu tien nguon von re cho nong nghiep cong nghe cao

Tạo lực đẩy tín dụng cho nông nghiệp công nghệ cao

Theo bà Hà Thu Giang, xác định nông nghiệp, nông thôn trong đó có nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là một trong những lĩnh vực ưu tiên đầu tư vốn, NHNN đã ban hành nhiều chính sách để hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực này.

Cụ thể, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó có nhiều quy định chính sách tín dụng ưu đãi khuyến khích sản xuất ứng dụng công nghệ cao gia tăng giá trị nông sản.

Có thể kể đến như quy định về mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã tối đa từ 100 triệu đồng đến 03 tỷ đồng; đối với khách hàng có dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp được vay không có tài sản bảo đảm từ 70% đến 80% giá trị dự án, phương án…

Đặc biệt, thực hiện chương trình khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP của Chính phủ, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) dành ít nhất 100.000 tỷ đồng để cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thông thường từ 0,5% đến 1,5%/năm đối với các tổ chức, cá nhân đáp ứng tiêu chí nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo quy định.

Ngoài ra, NHNN cũng đẩy mạnh triển khai một số chương trình, chính sách tín dụng đặc thù như cho vay hỗ trợ lãi suất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ, tạo điều kiện để hộ dân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư máy móc thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.

“Riêng trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hiện nay tối đa là 4,5%/năm – thấp hơn nhiều so với các lĩnh vực khác và là mức thấp nhất từ trước tới nay”, bà Hà Thu Giang cho biết.

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách nêu trên, đến nay đã có trên 80 TCTD và gần 1.200 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay nông nghiệp nông thôn.

Kết quả là năm 2020, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, bão lũ, dịch tả lợn châu Phi, song tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vẫn có tăng trưởng khá.

Đến cuối tháng 10/2020, dư nợ tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và 116/2018/NĐ-CP đạt hơn 2 triệu tỷ đồng, tăng 6,21% so với cuối năm 2019 và chiếm 24,8% dư nợ toàn nền kinh tế.

Vẫn còn nhiều rào cản

Tuy nhiên, đại diện NHNN cũng cho biết, việc cho vay ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của các TCTD trong thời gian qua còn gặp một số khó khăn, thách thức.

Trong đó, phải kể đến việc triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp (đặc biệt là các tài sản từ dự án nông nghiệp công nghệ cao như nhà kính, nhà lưới...) tại các địa phương theo Thông tư 33/2017/TT-BTNMT còn chậm. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro do thiên tai, dịch bệnh.

“Đặc biệt trong giai đoạn gần đây, ngành nông nghiệp đang phải chịu ảnh hưởng kép: vừa bị ảnh hưởng xấu do dịch Covid-19 vừa chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch tả lợn châu Phi. Trong khi đó, các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong nông nghiệp còn chậm triển khai”, bà Hà Thu Giang chia sẻ.

Đặc biệt là những thách thức từ việc tham gia các Hiệp định Thương mại quốc tế và khu vực, trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa thích ứng kịp với xu thế hội nhập, chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả nên TCTD chưa có cơ sở để xem xét quyết định cho vay.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Nguyễn Thùy Dương - Phó phòng Phát triển giải pháp tài chính - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết, các thách thức trong tài trợ chuỗi nông nghiệp đang gặp phải có thể kể như: xác định đối tượng ưu tiên thiếu các quỹ bảo hiểm cho lĩnh vực; thủ tục vay vốn, thẩm định cần nhiều thời gian; chưa có bộ tiêu chí đánh giá chuyên sâu cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao.

Để vượt qua những rào cản trên nhằm hướng tới mục đích chung đó là phát triển nông nghiệp công nghệ cao cũng như phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, theo bà Hà Thu Giang, trước hết doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam phải nắm bắt xu hướng thị trường, tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, từ đó hoàn thiện năng lực quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm với những ý tưởng sáng tạo, hiệu quả.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400