NHNN tham dự Hội nghị trực tuyến Phó Thống đốc NHTW và Thứ trưởng Tài chính ASEAN+3 (AFCDM+3)

16:14 | 25/03/2021

Ngày 25/3/2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham dự Hội nghị trực tuyến Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTW) và Thứ trưởng Tài chính ASEAN+3 (gọi tắt là AFCDM+3) trong khuôn khổ chuỗi Hội nghị cấp cao ASEAN và ASEAN+3 diễn ra từ ngày 25-30/3/2021.

nhnn tham du hoi nghi truc tuyen pho thong doc nhtw va thu truong tai chinh asean3 afcdm3 Các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN thông qua 10 sáng kiến và ưu tiên hợp tác kinh tế
nhnn tham du hoi nghi truc tuyen pho thong doc nhtw va thu truong tai chinh asean3 afcdm3 Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng: Hợp tác biển để thúc đẩy phục hồi hậu COVID-19

Tham dự Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Tài chính, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước trong khu vực ASEAN+3, đại diện Cơ quan Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

nhnn tham du hoi nghi truc tuyen pho thong doc nhtw va thu truong tai chinh asean3 afcdm3

Tại Hội nghị, các Phó Thống đốc và Thứ trưởng Bộ Tài chính tập trung trao đổi một số nội dung chính quan trọng như tình hình và triển vọng kinh tế vĩ mô toàn cầu và khu vực, tình hình dịch bệnh và các biện pháp ứng phó với đại dịch COVID-19; tiến trình hợp tác trong khuôn khổ Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai (CMIM); định hướng chiến lược, cũng như các sáng kiến mới của Tiến trình hợp tác tài chính ASEAN+3…

Tại phiên trao đổi về diễn biến kinh tế khu vực và thế giới, Ban Thư ký ASEAN đã có bài trình bày về tình hình khu vực ASEAN, trong đó nhấn mạnh đại dịch COVD-19 đã tác động hết sức tiêu cực tới hoạt động kinh tế và thương mại toàn cầu và khu vực trong năm 2020, gây ngừng trệ các hoạt động dịch vụ và sản xuất, gián đoạn chuỗi cung ứng và ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng triệu người dân. Mặc dù trong thời gian gần đây khu vực sản xuất và dịch vụ đã được cải thiện đáng kể nhờ những chính sách hỗ trợ của chính phủ các nước, nhưng một số khu vực kinh tế khác như bán lẻ vẫn hồi phục kém và tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia vẫn ở mức cao do ảnh hưởng của diễn biến phức tạp của dịch bệnh.

Đại diện AMRO đánh giá cao những nỗ lực của các Bộ Tài chính và NHTW ASEAN+3 trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thời gian qua để ứng phó với dịch bệnh. AMRO dự báo các nước ASEAN+3 sẽ đạt tăng trưởng bình quân ở mức 6,9% (đối với khu vực ASEAN là 6,0%) trong năm 2021, với rủi ro chính vẫn đến từ các đợt bùng phát tiếp theo và các biến chủng mới của COVID-19.

Trong phiên trao đổi về chuyên đề về “Chuỗi giá trị toàn cầu thời kỳ “bình thường mới” sau dịch bệnh”, AMRO nhận định cuộc khủng hoảng do COVID-19 gây ra đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động thương mại và đầu tư trên toàn cầu, đặc biệt là làm gián đoạn chuỗi giá trị, bộc lộ những điểm yếu ở một số mắt xích.

Do đó, cần có một cái nhìn mới về mạng lưới chuỗi cung ứng. Trong giai đoạn “bình thường mới” sau đại dịch, các quốc gia cần có những đối sách phù hợp để định hình lại quỹ đạo tăng trưởng của các nền kinh tế trong khu vực, tái cấu trúc lại các chuỗi giá trị truyền thống, và tập trung ưu tiên hơn vào tăng cường khả năng chống chịu, đặc biệt trong bối cảnh các chuỗi giá trị toàn cầu chiếm một tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế của các nền kinh tế khu vực, sự nổi lên của công nghệ số và các rủi ro gia tăng từ môi trường chủ nghĩa bảo hộ.

Liên quan đến các hoạt động đang triển khai, AMRO và Đồng Chủ trì đã cập nhật tiến độ và xin ý kiến chỉ đạo của các Phó Thống đốc và Thứ trưởng về một số vấn đề như tiến độ thảo luận, lộ trình lựa chọn lãi suất CMIM và nguyên tắc hướng dẫn về phần bù lãi suất; phê duyệt Hướng dẫn sửa đổi thực hiện giám sát các nước thành viên của AMRO…

Phát biểu tại Hội nghị, đại diện NHNN đánh giá cao AMRO trong việc thực hiện hiệu quả chức năng giám sát vĩ mô các nước trong khu vực, đồng thời đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho các nước ASEAN+3 nhằm xử lý các vấn đề kỹ thuật trong khuôn khổ Thỏa thuận CMIM và cải thiện quy trình hoạt động của AMRO, cũng như cơ chế phối hợp giữa các nước trong khu vực. Đồng thời, NHNN cam kết cùng các nước ASEAN+3 tiếp tục thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong nội khối và giữa khu vực với các tổ chức quốc tế và các nước đối tác khác trong bối cảnh hậu đại dịch.

Kết thúc Hội nghị, các Phó Thống đốc và Thứ trưởng Bộ Tài chính chia sẻ tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong khu vực nhằm giúp các quốc gia thành viên cùng vượt qua giai đoạn khó khăn, góp phần phục hồi kinh tế khu vực.

TH

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.560 22.790 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.590 22.790 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.574 22.794 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.570 22.770 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.590 22.770 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.590 22.770 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.592 22.805 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.564 22.794 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.590 22.770 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.610 22.770 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.800
60.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.800
60.500
Vàng SJC 5c
59.800
60.520
Vàng nhẫn 9999
51.600
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000