Nỗi niềm các lao động làng nghề

11:04 | 27/09/2021

Với vai trò quan trọng của các hộ tại các làng nghề hiện nay, đại diện các làng nghề và nhóm nghiên cứu đề nghị Chính phủ nên điều chỉnh lại các tiêu chí hỗ trợ để bao trùm hơn, tạo điều kiện cho các hộ tại làng nghề có thể tiếp cận được với các nguồn hỗ trợ này và không bị bỏ lại phía sau.

Theo một báo cáo vừa công bố của Nhóm nghiên cứu giữa Forest Trends và 6 hiệp hội ngành gỗ về các làng nghề gỗ là Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Dương (BIFA) và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Đồng Nai (DOWA), cho thấy các làng nghề đã và đang bị tổn hại không nhỏ vì đại dịch Covid-19.

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 6 làng nghề, trong đó có 3 làng nằm trong vùng giãn cách của Hà Nội là Hữu Bằng (Thạch Thất), Vạn Điểm (Thường Tín), Liên Hà (Đan Phượng). Một làng nghề bị phong tỏa do có nhiều ca F0 là Thụy Lân (Yên Mỹ, Hưng Yên).

Hai làng nghề là Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh), La Xuyên (Ý Yên, Nam Định) không phải thực hiện giãn cách, không bị phong tỏa nhưng các hoạt động sản xuất của hộ gia đình cũng bị tác động trực tiếp, do khâu lưu thông nguyên liệu vật liệu, đầu ra sản phẩm và lao động bị ảnh hưởng do giãn cách tại các địa phương khác.

noi niem cac lao dong lang nghe
Các làng nghề đang gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19

TS.Tô Xuân Phúc, trưởng nhóm nghiên cứu này cho biết, khảo sát 6 làng nghề cho thấy, do tác động của đại dịch lần này, năng lực sản xuất của các hộ đã giảm 62%. Làng nghề có công suất hoạt động cao nhất là Thụy Lân nhưng cũng chỉ bằng 50% những ngày trước khi có dịch bệnh. Ở Đồng Kỵ và Hữu Bằng, công suất chỉ đạt 30%.

Hiện khi dịch bệnh đã được khống chế tốt hơn, khoảng 46% số hộ tại các làng đã quay trở lại sản xuất. Làng có số hộ quay lại sản xuất cao nhất đạt 80% (La Xuyên) và làng thấp nhất chỉ đạt 30% (Đồng Kỵ). “Gọi là trở lại hoạt động nhưng cũng chỉ là cầm chừng để giữ thợ, “lấy công làm lãi” chứ không có lợi nhuận”, ông Tô Xuân Phúc cho biết thêm.

Lực lượng lao động tại các làng nghề suy giảm nghiêm trọng, lượng lao động làm thuê tại các làng nghề giảm 73%, lao động của bản thân hộ giảm 36%.

Đầu ra sản phẩm của các hộ giảm khoảng 76%, thu nhập của hộ giảm gần 90%, nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giảm 68% do không tiêu thụ được sản phẩm đầu ra. Ở một số nơi như Đồng Kỵ, Liên Hà, La Xuyên lượng sản phẩm bán ra giảm 80-90%, tương ứng với mức sụt giảm về nguồn thu của hộ.

Trong thời gian này, chi phí nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất tăng; cước vận chuyển và giá phụ liệu tăng bình quân khoảng 20-25%, trong khi chi phí gỗ nguyên liệu đầu vào tăng khoảng 5-10%.

Đặc biệt, hơn 70% số hộ có vay vốn để sản xuất kinh doanh, nhưng sản xuất đình trệ, nguồn thu bị mất hoặc sụt giảm đã tạo ra sức ép về các khoản vay rất lớn cho các hộ.

Theo thông tin từ ông Vũ Quốc Vương - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, số nợ vay của nhiều hộ trong làng tới hàng tỷ đồng. Sức ép trả lãi ngân hàng là rất lớn. Nhiều hộ phải xoay xở vay vốn bên ngoài để trả lãi cho ngân hàng.

Không chỉ thiếu vốn, bà Nguyễn Thị Bảy ở làng nghề gỗ Hữu Bằng cho biết, áp lực lớn nữa với các hộ làng nghề là đứt gãy chuỗi cung ứng, thiếu lao động, thiếu nguyên liệu, chi phí sản xuất tăng cao. Giá nguyên vật liệu tăng cao nhưng lại thiếu. “Các biện pháp giãn cách làm đứt nguồn cung nguyên liệu và cũng khiến lao động ở địa bàn khác không thể di chuyển tới làng nghề.

Khó khăn là vậy, nhưng dường như người lao động ngành gỗ đang ở bên rìa các chính sách hỗ trợ của Chính phủ.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP và Nghị quyết 105/NQ-CP để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và người lao động, cả lao động chính thức và phi chính thức. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng cho biết, các hộ sản xuất tại các làng nghề khảo sát không tiếp cận được với nguồn hỗ trợ.

Nguyên nhân là do các hộ không có đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế, do vậy các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ không được các cơ quan quản lý công nhận một cách chính thức. Kết quả là hộ nằm ngoài tiêu chí được hỗ trợ được quy định trong các Nghị quyết nêu trên.

Đại diện các làng nghề gỗ phản ánh, trong khi các lao động phi chính thức, những người bán rong, thợ hồ, thợ xây… được hưởng chính sách hỗ trợ nhưng lao động làm thuê cho các hộ sản xuất đồ gỗ trong làng nghề không tiếp cận được các gói hỗ trợ này.

“Khó khăn là khó khăn chung. Chúng tôi mong rằng lao động trong các làng nghề cũng được hỗ trợ như các nhóm lao động khác. 1,5 triệu đồng tiền hỗ trợ rất ý nghĩa với người lao động lúc khó khăn này ”.

Theo ông Tô Xuân Phúc và nhóm nghiên cứu, làng nghề gỗ hiện nay có vai trò quan trọng về kinh tế - xã hội. 300 làng nghề gỗ đang là nguồn cung chủ yếu các sản phẩm gỗ cho thị trường nội địa. Sinh kế của hàng nghìn hộ và hàng triệu lao động trông vào các làng nghề này.

Với vai trò quan trọng của các hộ tại các làng nghề hiện nay, đại diện các làng nghề và nhóm nghiên cứu đề nghị Chính phủ nên điều chỉnh lại các tiêu chí hỗ trợ để bao trùm hơn, tạo điều kiện cho các hộ tại làng nghề có thể tiếp cận được với các nguồn hỗ trợ này và không bị bỏ lại phía sau.

Linh Đan

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200