Phát triển chăn nuôi bền vững: Tái đàn lợn theo hướng an toàn sinh học

09:57 | 28/02/2020

Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh: xây dựng chuỗi liên kết, hỗ trợ hình thành hợp tác xã và tăng liên kết với doanh nghiệp; kiểm soát chất lượng theo chuỗi; tăng đầu tư vào vùng chuyên canh nguyên liệu, kết nối với hộ sản xuất;  xây dựng chiến lược thị trường rõ ràng, nghiên cứu, tìm kiếm thị trường ngách thích hợp với năng lực để sẵn sàng tiếp cận thị trường EU, CPTPP...

Người dân còn lơ là với cúm gia cầm
Chủ động phòng dịch cúm A trên gia cầm
Hàng loạt dự án tiền tỷ “trùm mền”

Việt Nam xếp thứ 5 trong top 10 quốc gia và khu vực sản xuất thịt lợn nhiều nhất với sản lượng móc hàm đạt 2,8 triệu tấn/năm, song cũng thuộc top 10 quốc gia tiêu thụ thịt lợn nhiều nhất (2,7 triệu tấn/năm). Chăn nuôi lợn tạo thu nhập cho hơn 3,4 triệu hộ gia đình, tỷ trọng 26,9% trong tổng số 9,32 triệu hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản, đạt  tốc độ tăng trưởng 1,5%/năm.

Cần đảm bảo phát triển chăn nuôi lợn theo hướng an toàn dịch bệnh

Nhưng từ khi dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) bùng phát (tháng 2/2019), lại chưa có vaccine, chưa  tìm ra  thuốc điều trị hữu hiệu trong khi chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số, khiến ngành chăn nuôi lợn chịu nhiều tổn thất. Đã có trên 5,9 triệu con lợn bị tiêu hủy, với tổng trọng lượng khoảng 341 nghìn tấn, chiếm 9% tổng đàn; khiến sản lượng thịt lợn trong năm 2019 chỉ đạt 3,3 triệu tấn, giảm 13,8% so với năm 2018.

Trong tiêu dùng thực phẩm của người dân Việt Nam, thì thịt lợn chiếm tới 65%, thịt bò và thịt gà chỉ chiếm 20%. Vì vậy, khi bệnh DTLCP lan rộng, giá thịt lợn trong nước tăng vọt, đẩy nhập khẩu thịt tăng theo (năm 2019 tăng 90% so với 2018). Nên dù sản xuất thuộc top 10 thế giới, Việt Nam chỉ đóng góp 45 triệu USD xuất khẩu thịt lợn trong khi quy mô thị trường này toàn cầu lên tới gần 28,5 tỷ USD.

Trước thực trạng thiếu hụt nguồn cung khiến giá thịt lợn năm 2020 được dự báo sẽ tiếp tục tăng, nhóm nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) đã xây dựng hai kịch bản mô phỏng dựa trên đàn nái. Cùng với các kịch bản nền về tăng trưởng GDP, CPI, dân số, tỷ giá, giá nguyên liệu thức ăn… nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh DTLCP có tác động trực tiếp đến nguồn cung thịt lợn trong nước, có thể làm giảm từ 20% (kịch bản 1 - đàn nái bị thiệt hại 10%,  tương đương khoảng 580 nghìn con) đến 35% (kịch bản 2 - đàn nái bị thiệt hại 20%, tương đương 1,16 triệu con)  tổng cung thịt lợn nội địa tính đến năm 2020.

Theo kịch bản cơ sở, nếu không có bệnh DTLCP dự báo giá lợn cổng trại đến 2020 ở mức 46.000 đồng/kg lợn hơi. Dịch tả lợn sẽ khiến giá lợn cổng trại bình quân năm 2019 tăng khoảng 22% (kịch bản 1) 45,5% (kịch bản 2). Nếu không xảy ra dịch, dự báo sản lượng thịt lợn theo kịch bản cơ sở đến năm 2020 sẽ là 3,9 triệu tấn.

Với kịch bản 1 xảy ra thì sản lượng thịt lợn sẽ giảm còn 3,15 triệu tấn và xuống còn 2,55 triệu tấn nếu kịch bản 2 xảy ra. Do đó, nhập khẩu thịt lợn tăng mạnh đến năm 2020 để phần nào bù đắp lượng thiếu hụt thịt lợn do sụt giảm nguồn cung nội địa gây ra.

Mặc dù tăng mạnh nhưng lượng nhập khẩu là rất nhỏ so với lượng cung thịt lợn nội địa.  Theo nhóm nghiên cứu, do tiêu dùng thịt lợn có thể được thay thế bằng một số loại mặt hàng khác như thịt bò, thịt gà. Ở chiều ngược lại, sự thiếu hụt về nguồn cung, tăng giá của sản phẩm chính là các yếu tố gây suy giảm tiêu dùng thịt lợn trong nước. Tiêu dùng thịt lợn nội địa sẽ giảm 14,6% (kịch bản 1) giảm 25% (kịch bản 2). Bởi, hộ chăn nuôi quy mô lớn hơn có xu hướng mong muốn tái đàn sớm với quy mô tái đàn thấp trong khi hộ chăn nuôi nhỏ có xu hướng ngược lại.

Theo cả hai kịch bản, nhập khẩu thịt lợn sẽ đều tăng mạnh. Theo kịch bản cơ sở, lượng thịt nhập khẩu năm nay là khoảng 5.500 tấn. Nếu kịch bản 1 xảy ra, lượng thịt lợn nhập khẩu sẽ tăng gần 30%,  lên mức 7.100 tấn. Theo kịch bản 2, lượng thịt nhập khẩu sẽ tăng 60%, lên 8.900 tấn.

Ông Trần Công Thắng, Viện trưởng IPSARD chia sẻ, trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết thương mại như CPTPP, EVFTA… đang tạo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ lên cả người sản xuất lẫn thị trường bán lẻ thịt lợn, nhưng đây là thời điểm thích hợp để tái cơ cấu ngành chăn nuôi.

Nhà nước cũng cần có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng chuỗi, vùng an toàn dịch bệnh; hỗ trợ hộ chăn nuôi quy mô nhỏ chuyển đổi sản xuất sang ngành nghề khác; phát triển chăn nuôi gia cầm, gia súc ăn cỏ… đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn sinh học để đảm bảo nguồn cung thịt trong nước. Kiểm soát tốt công tác tái đàn.

Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh: xây dựng chuỗi liên kết, hỗ trợ hình thành hợp tác xã và tăng liên kết với doanh nghiệp; kiểm soát chất lượng theo chuỗi; tăng đầu tư vào vùng chuyên canh nguyên liệu, kết nối với hộ sản xuất;  xây dựng chiến lược thị trường rõ ràng, nghiên cứu, tìm kiếm thị trường ngách thích hợp với năng lực để sẵn sàng tiếp cận thị trường EU, CPTPP...  Về phía người chăn nuôi cũng cần chuyên nghiệp hơn, liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã, chủ động nắm bắt thông tin nhu cầu thị trường, ông Thắng nhấn mạnh.

Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, kể từ ngày tiêu hủy cuối cùng (26/1), bệnh DTLCP đã qua 25 ngày không phát sinh ổ dịch mới trên địa bàn Thủ đô. Cụ thể, từ ngày 1/1 đến ngày 20/2, dịch bệnh đã xảy ra tại 13 hộ chăn nuôi của 7 xã thuộc 6 huyện. Tổng số lợn mắc bệnh và tiêu hủy là 71 con với tổng trọng lượng 5.589kg. Hiện đã có 446 xã, phường (chiếm 99,33%) của 21 quận, huyện, bệnh DTLCP đã qua 30 ngày không phát sinh. Trên địa bàn thành phố chỉ còn 3 xã: Sơn Đông (thị xã Sơn Tây), Tân Lập (huyện Đan Phượng), Vạn Phúc (huyện Thanh Trì), chiếm 0,67% tổng số xã có bệnh DTLCP chưa qua 30 ngày.

Đây là tín hiệu để các địa phương tái đàn chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học trên cơ sở thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ NN&PTNT về tổng vệ sinh, tiêu độc môi trường ở các ổ dịch cũ, các nơi có nguy cơ cao…

Trần Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.400 23.610 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.430 23.610 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.411 23.601 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.418 23.630 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.418 23.618 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.430 23.600 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.460 23.600 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.050
Vàng SJC 5c
47.200
48.050
Vàng nhẫn 9999
44.800
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.400