PMI tháng Sáu vọt lên 51,1 điểm, cao nhất 10 tháng

10:31 | 01/07/2020

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh, sản xuất tăng trở lại, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Việt Nam cho thấy sự bứt phá trong tháng cuối của quý II.

pmi thang sau vot len 511 diem cao nhat 10 thang Suy giảm sản xuất chậm lại, PMI tháng Năm lên 42,7 điểm
pmi thang sau vot len 511 diem cao nhat 10 thang PMI thấp nhất lịch sử, chỉ còn 32,7 điểm trong tháng 4
pmi thang sau vot len 511 diem cao nhat 10 thang Covid-19 đẩy PMI tháng 3 xuống thấp kỷ lục, chỉ còn 41,9 điểm
pmi thang sau vot len 511 diem cao nhat 10 thang

PMI của Việt Nam đạt kết quả 51,1 điểm trong tháng 6, vượt trội so với 42,7 điểm trong tháng 5 và lần đầu tiên trong vòng 5 tháng trở lại đây đã nằm trên ngưỡng trung tính 50 điểm - thể hiện tình trạng tiếp tục phục hồi kể từ khi PMI đạt mức thấp kỷ lục vào tháng 4, theo dữ liệu của IHS Markit - nhà cung cấp thông tin toàn cầu có trụ sở tại London, Anh.

“Lĩnh vực sản xuất Việt Nam trong tháng 6 đã tăng trưởng trở lại nhờ việc Covid-19 được kiểm soát và kéo theo đó là nhu cầu khách hàng ở Việt Nam đã cải thiện”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nói.

Cụ thể, số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng lần đầu tiên trong năm tháng, và với mức tăng mạnh và là nhanh nhất trong gần một năm.

“Những người trả lời khảo sát cho biết đại dịch Covid-19 được kiểm soát ở Việt Nam đã góp phần làm tăng số lượng đơn đặt hàng mới”, IHS Markit cho hay.

Cả lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa trung gian đều có số lượng đơn đặt hàng mới tăng, nhưng lĩnh vực hàng hóa đầu tư cơ bản lại có số lượng đơn đặt hàng giảm. Nhưng đáng chú ý, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới lại giảm do những hạn chế trong di chuyển quốc tế và tình trạng đóng cửa công ty ở một số thị trường xuất khẩu.

“Sản lượng cũng có dấu hiệu tăng trở lại trong tháng 6 do tác động của lĩnh vực hàng tiêu dùng”, IHS Markit cho biết.

Mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới tăng vào cuối quý II, vẫn có bằng chứng cho thấy năng lực sản xuất chưa được sử dụng hết. Lượng công việc tồn đọng tiếp tục giảm, trong khi lực lượng lao động giảm tháng thứ năm liên tiếp. Tuy vậy, tốc độ giảm việc làm là chậm nhất kể từ tháng 2.

Những nỗ lực mở rộng sản xuất khiến các công ty tăng tồn kho hàng mua cùng với hoạt động mua hàng tăng nhẹ. Hơn nữa, hàng tồn kho trước sản xuất tăng với mức độ mạnh nhất kể từ tháng 11/2018. Tồn kho thành phẩm cũng tăng, một phần phản ánh sự chậm trễ trong việc chuyển giao hàng thành phẩm.

Các công ty cho biết chi phí đầu vào trong tháng 6 đã tăng lần đầu tiên trong ba tháng. Ở những nơi tăng giá đầu vào, những người trả lời khảo sát nêu nguyên nhân là do khan hiếm một số loại nguyên vật liệu. Tuy nhiên, tốc độ tăng chi phí là chậm hơn so với mức trung bình của lịch sử chỉ số khi nhu cầu hàng hóa đầu vào tương đối yếu.

Trong khi một số công ty đối phó với mức chi phí tăng bằng cách tăng giá bán hàng, những công ty khác lại tiếp tục giảm giá bán trong bối cảnh nhu cầu yếu. Giá bán hàng giảm tháng thứ năm liên tiếp nhưng là giảm nhẹ với tốc độ chậm nhất trong thời kỳ này.

“Các thành viên nhóm khảo sát cho biết, những vấn đề trong chuỗi cung ứng tiếp tục diễn ra do đại dịch Covid-19, đặc biệt liên quan đến các mặt hàng nhập khẩu. Thời gian giao hàng đã bị kéo dài bảy tháng liên tiếp, mặc dù mức độ là thấp nhất kể từ tháng 1”, IHS Markit cho hay.

Niềm tin rằng Covid-19 đã được kiểm soát ở Việt Nam và số lượng đơn đặt hàng mới sẽ tăng củng cố tâm lý lạc quan rằng sản xuất sẽ tăng trong năm tới. Tâm lý kinh doanh đã được cải thiện mạnh mẽ tháng thứ hai liên tiếp và là mức cao nhất kể từ tháng 1.

Theo Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, rào cản lớn nhất cho việc phục hồi lĩnh vực sản xuất của Việt Nam hiện nay là từ sự phục hồi chậm chạp của kinh tế thế giới, khi tác động của dịch bệnh vẫn đang lan rộng. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tiếp tục giảm, trong khi các công ty tiếp tục nêu khó khăn trong việc mua hàng hóa đầu vào từ nước ngoài.

“Hơn nữa, Covid-19 có vẻ như đã ảnh hưởng nặng nề lên nền kinh tế những tháng gần đây. IHS Markit mới đây dự báo GDP chỉ tăng 1% trong năm 2020, tức là giảm rất mạnh so với 7% được ghi nhận trong năm 2019”, Andrew Harker lưu ý thêm.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.070 23.280 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.100 23.280 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.103 23.283 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.095 23.265 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.094 23..304 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.930
50.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.930
50.330
Vàng SJC 5c
49.930
50.350
Vàng nhẫn 9999
49.550
50.080
Vàng nữ trang 9999
49.130
49.880