Suy giảm sản xuất chậm lại, PMI tháng Năm lên 42,7 điểm

10:02 | 04/06/2020

Lĩnh vực sản xuất vẫn suy giảm trong tháng 5 nhưng tốc độ giảm chậm hơn so với tháng 4, việc làm tiếp tục giảm, giá cả đầu ra cũng giảm khi các công ty cố gắng tìm kiếm đơn đặt hàng mới, PMI tháng 5 chỉ đạt 42,7 điểm, theo IHS Markit - nhà cung cấp thông tin toàn cầu có trụ sở tại London, Anh.

suy giam san xuat cham lai pmi thang nam len 427 diem PMI thấp nhất lịch sử, chỉ còn 32,7 điểm trong tháng 4
suy giam san xuat cham lai pmi thang nam len 427 diem Covid-19 đẩy PMI tháng 3 xuống thấp kỷ lục, chỉ còn 41,9 điểm
suy giam san xuat cham lai pmi thang nam len 427 diem PMI dưới 50 điểm do Covid-19, báo hiệu sự suy giảm điều kiện kinh doanh

Dữ liệu vừa được IHS Markit công bố cho thấy Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Việt Nam đã tăng mười điểm trong tháng 5, đạt 42,7 điểm so với mức thấp kỷ lục là 32,7 của tháng 4. Tuy nhiên, đây là tháng thứ tư liên tiếp chỉ số này dưới ngưỡng 50 điểm (khu vực thể hiện sản xuất thu hẹp).

suy giam san xuat cham lai pmi thang nam len 427 diem

“Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam trong tháng 5 tiếp tục chịu ảnh hưởng của đại dịch virus corona 2019 (COVID-19), mặc dù mức độ giảm đã nhẹ hơn so với tháng 4 khi virus đã được kiểm soát ở Việt Nam”, IHS Markit bình luận.

“Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm đều giảm với tốc độ chưa từng thấy trong thời kỳ trước khi cuộc khủng hoảng hiện nay bắt đầu. Có những báo cáo về những khó khăn trong việc duy trì số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới. Trong khi đó, các công ty đã tiếp tục giảm giá đầu ra để thu hút thêm đơn đặt hàng mới, trong bối cảnh chi phí đầu vào cũng giảm, mặc dù mức giảm chỉ là nhẹ”.

Tình trạng gián đoạn do đại dịch COVID-19 đã dẫn đến 6 tháng suy giảm liên tiếp của sản lượng ngành sản xuất, và đây là lần suy giảm mạnh. Tuy nhiên, mức độ giảm là nhẹ hơn nhiều so với tháng 4 khi một số công ty đã khôi phục lại hoạt động.

Xu hướng tương tự cũng được thấy ở số lượng đơn đặt hàng mới, với tốc độ suy giảm vẫn là nhanh nhưng đã chậm lại so với mức kỷ lục trong tháng 4. Một số người trả lời khảo sát nêu lên sự suy yếu của nhu cầu với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới, và chỉ số này đã giảm nhanh hơn so với tổng số lượng đơn đặt hàng mới.

Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm mạnh dẫn đến năng lực sản xuất chưa được sử dụng hết. Kết quả là các nhà sản xuất vẫn thận trọng trong việc tuyển dụng, thường không thay thế ngay những công nhân đã nghỉ việc. Số lượng nhân sự đã giảm tháng thứ tư liên tiếp.

Các nhà sản xuất cũng tiếp tục giảm hoạt động mua hàng và giảm lượng tồn kho cả hàng mua và hàng thành phẩm, mặc dù cả hai loại đều giảm với mức độ chậm hơn so với tháng 4.

Sự gián đoạn chuỗi cung ứng do COVID-19 vẫn là đặc điểm nổi bật của khảo sát trong tháng 5, với thời gian giao hàng của người bán tiếp tục kéo dài đáng kể. Các thành viên nhóm khảo sát cho biết rất khó kiếm được các mặt hàng nhập khẩu.

Tình trạng khan hiếm một số loại nguyên vật liệu đã tạo thêm áp lực chi phí đầu vào trong tháng. Giá cả đầu vào giảm tháng thứ hai liên tiếp, nhưng chỉ là giảm nhẹ. Ở những nơi giảm chi phí đầu vào, những người trả lời khảo sát thường cho nguyên nhân là do giá dầu giảm.

Các nhà sản xuất đã giảm giá bán hàng như đã từng làm trong suốt thời kỳ tính từ tháng 2. Mặc dù đã chậm lại so với tháng 4, tốc độ giảm giá vẫn là đáng kể. Theo những người trả lời khảo sát, việc giảm giá là để thu hút số lượng đơn đặt hàng mới.

Khi COVID-19 được kiểm soát ở Việt Nam, các nhà sản xuất đã tạm thời lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới. Tâm lý tích cực này đã xuất hiện sau triển vọng tiêu cực của tháng trước. Tuy nhiên, tâm lý kinh doanh vẫn ở mức thấp thứ nhì kể từ khi câu hỏi này được bổ sung thêm vào khảo sát từ tháng 4/2012 với những lo ngại rằng ảnh hưởng của đại dịch sẽ kéo dài.

Bình luận về kết quả khảo sát mới đây, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nói: “Thành công của Việt Nam trong việc đưa đại dịch COVID-19 vào tầm kiểm soát cho phép nền kinh tế có thể bắt đầu chặng đường hồi phục. Tuy nhiên, dữ liệu PMI của tháng 5 cho thấy con đường sẽ còn dài, khi lĩnh vực sản xuất vẫn suy giảm vào thời điểm giữa quý II của năm, mặc dù mức giảm là nhẹ hơn nhiều so với mức kỷ lục của tháng 4. Quá trình tăng trưởng trở lại có thể sẽ diễn ra từ từ với sự hỗ rợ ít ỏi từ thị trường nước ngoài, ít nhất là trong tương lai gần, khi đại dịch tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều khu vực trên thế giới”.

Với khu vực ASEAN, cũng theo dữ liệu của IHS Markit, chỉ số PMI toàn phần đạt 35,5 điểm trong tháng 5, tăng từ mức 30,7 của tháng 4, nhưng vẫn cho sự suy giảm tháng thứ ba liên tiếp của lĩnh vực sản xuất.

Cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm mạnh, mặc dù tốc độ giảm đã chậm hơn so với tháng 4 khi một số hạn chế phong tỏa đã được nới lỏng. Kỳ vọng sản lượng của các công ty đã tăng so với mức thấp kỷ lục của tháng 4, nhưng vẫn là một trong những mức kỳ vọng thấp nhất được ghi nhận.

Trong tháng 5, tất cả bảy quốc gia tham gia khảo sát đều có các điều kiện kinh doanh suy giảm tháng thứ ba liên tiếp. Singapore bị ảnh hưởng nặng nhất và là quốc gia duy nhất bị suy thoái nặng thêm. Chỉ số toàn phần (26,4 điểm) cho thấy sức khỏe lĩnh vực sản xuất suy giảm đáng kể và là kết quả chỉ số thấp nhất trong gần tám năm thu thập dữ liệu.

Các nhà sản xuất Indonesia báo cáo suy giảm ở mức tương tự, khi chỉ số toàn phần (28,6 điểm) là thấp thứ nhì từng được ghi nhận.

Các nhà sản xuất ở Myanmar cho biết tình trạng suy giảm tiếp tục, mặc dù chỉ số toàn phần (38,9) đã tăng so với mức thấp kỷ lục của tháng 4.

Trong khi đó Philippines báo cáo các điều kiện hoạt động giảm tháng thứ ba liên tiếp, mặc dù chỉ số toàn phần (40,1) cho thấy tốc độ giảm chậm nhất trong thời kỳ này.

Chỉ số toàn phần của Thái lan cũng cho thấy tốc độ suy giảm chậm lại, mặc dù đạt 41,6 điểm, vẫn thuộc hạng thấp nhất kể từ khi dữ liệu bắt đầu được thu thập vào cuối năm 2015.

Malaysia có mức suy thoái nhẹ nhất trong bảy quốc gia khảo sát trong tháng 5. Tuy nhiên, chỉ số toàn phần (45,6) vẫn cho thấy mức suy giảm liên tục của các điều kiện hoạt động.

“Nhìn chung, các điều kiện hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ASEAN vẫn đặc biệt khó khăn trong tháng 5. Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm mạnh cùng với đà giảm của nhu cầu từ nước ngoài đối với hàng hóa ASEAN, mặc dù trong tất cả các trường hợp, tốc độ giảm chậm lại một chút so với tháng 4 khi các hạn chế cách ly đã được nới lỏng, và có nhiều nhà máy bắt đầu mở cửa trở lại hơn”, theo IHS Markit.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: pmi

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530