Quy hoạch tổng thể quốc gia: Mở ra cơ hội và động lực phát triển mới

16:09 | 14/09/2022

Quy hoạch phải chỉ ra được tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh, từ đó có giải pháp phù hợp để phát huy tối đa các nguồn lực, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, quyết định, lâu dài; ngoại lực là quan trọng và đột phá...

Sáng 14/9, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị thẩm định Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là lần đầu tiên Việt Nam lập quy hoạch này.

Tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược

Tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh công tác quy hoạch có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển. Đây phải là quy hoạch với tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược.

Quy hoạch phải chỉ ra được tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh, từ đó có giải pháp phù hợp để phát huy tối đa các nguồn lực, trong đó nội lực (gồm con người, thiên nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử) là cơ bản, chiến lược, quyết định, lâu dài; ngoại lực (gồm vốn, công nghệ, quản lý, đào tạo nhân lực…) là quan trọng và đột phá.

quy hoach tong the quoc gia mo ra co hoi va dong luc phat trien moi

Xây dựng quy hoạch tổng thể quốc gia là nhiệm vụ lớn, khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ. Nhưng đây cũng là cơ hội để đánh giá lại hiện trạng một cách thực chất, tổng thể, qua đó đề xuất định hướng bố trí, sắp xếp lại không gian phát triển của đất nước, mở ra không gian phát triển mới, cơ hội phát triển mới, động lực phát triển mới để đạt mục tiêu, khát vọng.

Nói về vai trò và tầm quan trọng của Quy hoạch này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, Phó Chủ tịch Hội đồng thẩm định, phát biểu: Công tác quy hoạch được xem như "người công binh mở đường". Một bản quy hoạch tốt sẽ giúp có được con đường đi tốt nhất, hiệu quả nhất và nhanh nhất để đạt được các mục tiêu phát triển đất nước.

PGS. TS. Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh: “Báo cáo Quy hoạch tổng thể quốc gia gánh vác một sứ mệnh to lớn trong việc định hướng và tổ chức phát triển quốc gia tổng thể và dài hạn”. Đồng thời, dựng nên và định hình khung khổ phát triển quốc gia ở tầm chiến lược, từ góc độ quy hoạch, trên cơ sở đường lối, chiến lược phát triển đất nước mà Đảng và Nhà nước đã xác định.

Quy hoạch này cũng chính là căn cứ hoạch định chính sách và kiến tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, TS. Cao Viết Sinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ sung thêm.

Là những người được tham vấn và đóng góp cho quy hoạch này ngay từ những khâu xây dựng ban đầu, PGS. TS. Trần Đình Thiên và TS. Cao Viết Sinh đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan soạn thảo và các đơn vị tư vấn trong lần đầu tiên đất nước ta xây dựng Quy hoạch tổng thể quốc gia.

“Đây là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tận tâm, với tinh thần cầu thị cao”, PGS. TS. Trần Đình Thiên nói.

Tại Hội nghị, nhiều chuyên gia đã nêu lên những ý kiến của mình về Quy hoạch tổng thể quốc gia, nhất là những kỳ vọng đặt vào Quy hoạch này và cơ hội sắp xếp lại không gian phát triển của đất nước.

Trong đó, TS. Cao Viết Sinh mong muốn cần làm rõ hơn điễm nghẽn về các yếu tố nền tảng trong phát triển như: thể chế phát triển, nguồn nhân lực, phương thức quản trị; các vấn đề bền vững các cân đối lớn như: cân đối tích lũy- tiêu dùng; năng lượng, lương thực, cân đối thu - chi ngân sách; cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế... để đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp hiện đại; khai thác tối đa tiềm năng khác biệt và lợi thế.

Quy hoạch quốc gia mang tầm đại dương

TS. Cao Viết Sinh cho rằng cần phải đặt mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7%/năm giai đoạn 2021-2030, trong đó Vùng Đông Nam Bộ và Vùng Đồng bằng sông Hồng tăng 8-8,5%.

Và đến 2030, GDP/người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD, trong đó Vùng Đông Nam Bộ đạt khoảng 14.500 USD, vùng Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 13.400 USD.

PGS. TS. Trần Đình Thiên lại mong Quy hoạch đề cập thêm một số điều kiện - yếu tố chiến lược ảnh hưởng đến lợi thế - bất lợi thế, cơ hội - thách thức và sự lựa chọn chiến lược quốc gia.

Ông cho rằng với lợi thế về biển, Quy hoạch tổng thể quốc gia cần mang tầm đại dương chứ không chỉ mang tầm biển Đông để chỉ ra lợi ích, lợi thế và thách thức cho nhiệm vụ sử dụng không gian biển của Việt Nam ở tầm chiến lược toàn cầu; chỉ ra các lợi thế biển hiện đại của Việt Nam (năng lượng gió, mặt trời, dòng hải lưu)...

Tại Hội nghị, các ý kiến của các thành viên, ủy viên Hội động thẩm định đã nhất trí quan điểm, tư tưởng lớn của Quy hoạch tổng thể quốc gia là phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào yếu tố hiệu quả trong giai đoạn đến năm 2030, sau đó dần phát triển hài hòa, bền vững, cân đối giữa các vùng miền, địa phương. Do nguồn lực phát triển có hạn, cần ưu tiên, tập trung đầu tư cho một số lãnh thổ có điều kiện thuận lợi nhất.

Trong đó, định hướng động lực tăng trưởng là cần tập trung phát triển vùng động lực tăng trưởng và cực tăng trưởng. Phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tập trung vào vùng lõi động lực tăng trưởng là tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với Thủ đô Hà Nội là cực tăng trưởng; Phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tập trung vào vùng lõi động lực tăng trưởng là tứ giác TP. Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu với TP. Hồ Chí Minh là cực tăng trưởng.

Các hành lang kinh tế và vành đai công nghiệp, đô thị chính được định hình và sắp xếp thứ tự ưu tiên: Quy hoạch tập trung hình thành các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam và hướng Đông - Tây. Ưu tiên hình thành và phát triển các vành đai công nghiệp, đô thị quanh Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, gắn kết với các cửa ngõ quốc tế.

Ưu tiên phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông... gắn với hình thành các hành lang kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại tại các vùng động lực và cực tăng trưởng của các vùng kinh tế trọng điểm.

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, quy hoạch phải có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, khai thác tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh để chúng ta đi lên từ nội lực, từ nguồn lực bên trong, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài. Và phải hóa giải được những vấn đề mà mâu thuẫn, thách thức, tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế.

Việc xây dựng Quy hoạch cần quán triệt và cụ thể hóa phát triển nhanh nhưng bền vững, phát triển hài hòa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường. Thủ tướng cũng đặt vấn đề mở rộng không gian phát triển gồm không gian ngầm, không gian biển và bầu trời; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế ban đêm; phát triển không gian văn hóa gắn với du lịch.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000