Tận dụng FTA hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng xuất khẩu thị trường Á- Âu

18:51 | 02/12/2022

Việc tận dụng các FTA sẽ là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Á - Âu. Thực tế cho thấy, thương mại Việt Nam và các nước khu vực Á - Âu còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác.    

tan dung fta ho tro doanh nghiep gia tang xuat khau thi truong a au
Thương mại Việt Nam và các nước khu vực Á - Âu còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác.

Nhằm cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam thông tin cập nhật về tình hình thị trường, chính sách ngoại thương, các cơ hội giao thương và đầu tư tại khu vực Á - Âu, ngày 2/12, Bộ Công Thương đã tổ chức Diễn đàn thương mại với các đối tác khu vực Á - Âu (Eurasia) năm 2022.

Qua diễn đàn sẽ hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và đầu tư, tận dùng các lợi thế sẵn có để đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu phục vụ sản xuất từ khu vực Eurasia.

Eurasia là thị trường rộng lớn gồm 28 nước, trải dài từ Đông Âu sang Trung Á, với tổng diện tích khoảng 23,5 triệu km2, dân số hơn 410 triệu người, GDP gần 3.337 tỷ USD. Trong khu vực Eurasia có 15 quốc gia Đông Âu (gồm 11 thành viên EU như Ba Lan, Séc, Romania, Bulgaria, Hungary, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Lithuania và Croatia).

Ngoài ra, khu vực Eurasia còn có 4 quốc gia Đông Âu khác gồm: Nga, Belarus, Ukraine, Moldova; 5 quốc gia khu vực Tây Balkan là Albania, Bắc Macedonia, Bosnia-Herzgovina, Serbia, Montenegro và 8 quốc gia thuộc khu vực Trung Á như: Kazakhstan, Armenia, Kyrgyzstan, Azerbaijan, Gruzia, Uzbekistan, Tajikistan, Turmenistan.

Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công Thương) Tạ Hoàng Linh cho biết, khu vực Eurasia là thị trường truyền thống và đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Trong quan hệ thương mại, năm 2021, kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Eurasia đạt hơn 14,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với 2020. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 9,9 tỷ USD tăng 11,7%, nhập khẩu đạt 4,8 tỷ USD tăng 32,2%.

Riêng trong năm 2022, do những bất ổn địa chính trị trong khu vực, kéo theo đó là khủng hoảng năng lượng, lương thực và lạm phát tăng cao ở các nước Eurasia đã tác động tiêu cực đến thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước khu vực Á – Âu. Trong 10 tháng đầu năm 2022, kim ngạch hai chiều giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2021, đạt gần 11,1 tỷ USD (xuất khẩu đạt 7,3 tỷ USD, nhập khẩu đạt gần 3,8 tỷ USD). Dù vậy, kim ngạch hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 22/28 thị trường tại khu vực vẫn ghi nhận tăng trưởng hai con số.

Về đầu tư, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, tính đến hết tháng 10 năm 2022, các quốc gia khu vực Eurasia hiện có khoảng 339 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 1,8 tỷ USD, tương đương với 0,4% trong tổng vốn đăng ký từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ đang đầu tư tại Việt Nam. Việt Nam đã đầu tư 24 dự án sang khu vực Á - Âu với tổng vốn đăng ký 1,65 tỷ USD, trong đó chủ yếu là tại Nga, tương đương với 8% trong tổng vốn đăng ký đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Các con số thống kê hiện nay cho thấy giữa Việt Nam và khu vực Eurasia còn rất nhiều tiềm năng hợp tác, đặc biệt là khi giữa Việt Nam và các quốc gia tại khu vực này đã hình thành các thiết chế, khung khổ vững chắc làm nền tảng cho sự phát triển hợp tác song phương, bao gồm VNEAEUFTA với Liên minh kinh tế Á - Âu (Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia, Kyrgyzstan) và EVFTA với Liên minh châu Âu; Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA); 14 Ủy ban Hỗn hợp/ Ủy ban liên Chính phủ và 1 cơ chế Tham vấn hợp tác kinh tế song phương.

Năm 2021, một số chuyên gia cũng chia sẻ về vấn đề logistics, hàng hóa được vận chuyển bằng đường sắt từ Việt Nam, thông qua 2 cửa khẩu Đồng Đăng và Lào Cai kết nối với tuyến đường sắt Á - Âu, qua Trung Quốc đến các nước Trung Á (Kazakhstan, Tajikistan), Nga và các nước châu Âu. Bên cạnh đó, các Thương vụ Việt Nam tại Áo, Bungari, Rumani cũng nêu lên những lợi ích khi vận chuyển hàng hóa đi và đến châu Âu thông qua các cảng biển của các nước khu vực Đông Âu như: Slovenia, Bungari, Rumani.

tan dung fta ho tro doanh nghiep gia tang xuat khau thi truong a au

Ông Dương Hoàng Minh - Tham tán thương mại Việt Nam tại Liên bang Nga cho rằng, hiện dư địa các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nga vẫn còn rất lớn. Các sản phẩm có thể kể đến như chè, cà phê, hạt tiêu, thủy hải sản. Tuy nhiên chúng ta mới dừng lại ở xuất khẩu thô, sơ chế hoặc một số mặt hàng chúng ta chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở làm gia công cho các đối tác nước ngoài là chính như hàng may mặc, giày da, điện tử…

Trong thời gian tới, để rộng đường cho việc đưa hàng Việt Nam vào thị trường Nga, ông Dương Hoàng Minh kiến nghị sớm giải quyết khó khăn về vận tải, logistic, nối lại đường bay trực tiếp với Nga. Hiện 22 quốc gia đã nối lại đường bay trực tiếp với Nga. Đồng thời với đó là kết nối lại các chương trình hợp tác với Liên bang Nga. Nhà nước nên tổ chức một số chương trình xúc tiến thương mại giữa hai bên để xúc tiến một số mặt hàng có tiềm năng như hàng may mặc, đồ uống, đồ gỗ, cà phê, chè

Trong khi đó, tại thị trường Ba Lan, hiện Việt Nam đang có lợi thế xuất khẩu các loại hoa quả tươi như thanh long, bưởi, dừa tươi... Một số mặt hàng đồ khô như bún miến mỳ cũng đang được nhập chính ngạch. Ông Nguyễn Thành Hải - Tham tán thương mại tại Ba Lan – chia sẻ, hiện nay, nông sản và thực phẩm Việt Nam đang có một số thuận lợi tại Ba Lan, như ưu đãi mới về thuế từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Nhiều mặt hàng thuế đã về 0% như rau tươi, một số loại củ, quả tiềm năng, tôm nguyên liệu… của Việt Nam. Bên cạnh đó, thị trường không yêu cầu quá khắt khe đối với chất lượng sản phẩm, không khó tính như các thị trường khác như Đức, Italia, Pháp.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thủy, Tham tán thương mại Việt Nam tại CH Séc chi sẻ thông tin liên quan đến cơ hội hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ với CH Séc và cộng đồng doanh nghiệp Việt kiều tại Cộng hòa Séc. Về hợp tác đầu tư tại Việt Nam, đại diện Tập đoàn Skoda của Cộng hòa Séc thông tin về nhu cầu đầu tư, tìm kiếm các đối tác để đầu tư nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam. Công ty mong muốn thông qua Diễn đàn có thể tìm kiếm thêm nhiều đối tác là doanh nghiệp Việt Nam cùng hợp tác trong quá trình công ty xây dựng nhà máy tại Việt Nam.

Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công Thương) Tạ Hoàng Linh đánh giá, nền kinh tế thế giới thời gian tới được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn như suy thoái trong ngắn hạn, lạm phát cao và các vấn đề địa chính trị sẽ còn diễn biến phức tạp. Vì vậy,  Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp để hỗ trợ xử lý những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động giao thương, đồng thời phối hợp xây dựng giải pháp tổng thể thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với thị trường châu Âu - châu Mỹ nói chung và thị trường Á - Âu nói riêng.

 

Hà An

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700