Tăng đầu tư cho hạ tầng ngành thủy sản

08:00 | 16/06/2021

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Quốc hội về đầu tư công cho hạ tầng thủy sản giai đoạn 2021 – 2025. Đồng thời, đề xuất Chính phủ những dự án vay vốn cho hạ tầng thủy sản. Nếu các nguồn vốn được thực thi thì hạ tầng thủy sản Việt Nam sẽ có bước thay đổi, đảm bảo cho phát triển thủy sản một cách bền vững.

Theo đại diện Tổng cục Thủy sản, năm 2020, mặc dù dịch bệnh Covid-19 và chịu ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan, bão, lũ xuất hiện liên tiếp, song tổng sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam vẫn đạt 3,85 triệu tấn (tăng 2,06% so với năm 2019), trong đó khai thác biển đạt 3,65 triệu tấn (tăng 2,1% so với cùng kỳ). Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh năm 2010) đạt 3,05% so với năm 2019. Tổng kim ngạch xuất khẩu hải sản cả nước đạt 3,435 tỷ USD, tăng 3,12% so với cùng kỳ năm 2019, một số mặt hàng giá trị xuất khẩu tăng mạnh như: tôm, cá biển, cua, ghẹ, mực...

tang dau tu cho ha tang nganh thuy san
Ảnh minh họa

Số liệu của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tính riêng giá trị xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 806,2 nghìn tấn, trị giá 3,239 tỷ USD, tăng 13,39% về lượng và tăng 12,46% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Đáng chú ý, trị giá xuất khẩu các mặt hàng này đều tăng mạnh hơn so với mức tăng về lượng, có mặt tại trên 195 thị trường, những quốc gia này cũng đang áp dụng các hàng rào kỹ thuật phòng vệ thương mại, chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng tốt cơ hội và vượt qua được những khó khăn do tác động của dịch bệnh. Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng thủy sản cao cấp sẽ tăng khi dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tại EU và Hoa Kỳ dần được mở trở lại. Bên cạnh đó, với thói quen tiêu dùng đã hình thành trong hơn một năm vừa qua vì đại dịch Covid-19, nhu cầu tiêu thụ thủy sản tại gia đình sẽ tiếp tục ổn định ở mức cao.

Trong khi nguồn cung thủy sản của một số nhà cung cấp lớn như Ấn Độ, hay ở Đông Nam Á và Nam Mỹ bị tác động của dịch Covid-19, khiến giá một số mặt hàng thủy sản tăng cùng với xu hướng tăng nhu cầu. Đây được xem là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới.

Ngành chế biến thủy sản hiện nay đã phát triển thành một ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện cả nước có 620 cơ sở chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, thì có 415 nhà máy đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Nhật, Mỹ, EU...

Ngoài ra, còn có 3.000 cơ sở chế biến quy mô nhỏ tại các làng nghề truyền thống phơi khô, làm mắm, đông lạnh, đồ hộp, với đầy đủ các chủng loại sản phẩm hết sức phong phú: Thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, đồ hộp, nhiều sản phẩm có chất lượng, giá trị cao, đáp ứng được những thị trường khó tính trên thế giới: Mỹ, EU, Nhật Bản.

Ngoài định hướng chế biến, làm hàng xuất khẩu, trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, lưu thông khó khăn, ngành thủy sản đã chứng kiến nhu cầu chế biến, tiêu thụ nội địa các mặt hàng thủy hải sản tăng mạnh, đặc biệt các sản phẩm tươi sống, không chỉ đóng góp quan trọng trong việc đảm bảo nhu cầu thực phẩm sạch trong nước, cung cấp nguồn dinh dưỡng chất lượng cho người dân. Mà quan trọng hơn, giúp ngư dân thay đổi thói quen khai thác, quan tâm đến khâu bảo quản và rút ngắn ngày khai thác để có sản phẩm tươi ngon phục vụ thị trường nội địa.

Bên cạnh đó, ngành thủy sản đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, kênh phân phối tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Logistic không thuận lợi, giá cước vận tải tăng, giá bán sản phẩm khai thác chất lượng cao giảm. Tình trạng thiếu lao động khai thác thủy sản cả về số lượng lẫn chất lượng…

Thêm nữa, cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu chưa được tháo dỡ, nhưng các rào cản kỹ thuật mới đang hình thành tiếp tục tác động xấu đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam...

Nhằm đạt mục tiêu Chiến lược phát triển ngành thủy sản đến 2030 và tầm nhìn 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết, ngành nông nghiệp phải thực hiện đồng bộ cả 3 trụ cột gồm: khai thác, bảo tồn và nuôi trồng gắn với chế biến, nhấn mạnh tới giảm tỷ lệ khai thác, tăng sản lượng nuôi trồng. Để khai thác hải sản bền vững, cần làm tốt khâu bảo tồn để có nguồn lợi, đảm bảo bền vững giá trị gia tăng và phục vụ xuất khẩu. Cùng với đó, tập trung vào các khâu bảo quản, chế biến, giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch có thể nâng chất lượng thủy sản và gia tăng giá trị, phân tích.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Quốc hội về đầu tư công cho hạ tầng thủy sản giai đoạn 2021 – 2025. Đồng thời, đề xuất Chính phủ những dự án vay vốn cho hạ tầng thủy sản. Nếu các nguồn vốn được thực thi thì hạ tầng thủy sản Việt Nam sẽ có bước thay đổi, đảm bảo cho phát triển thủy sản một cách bền vững.

Hữu An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400