Tăng vốn cho Agribank: Đảm bảo huyết mạch nền kinh tế được lưu thông

08:34 | 04/06/2020

Nếu không tăng vốn điều lệ cho Agribank ngay trong năm 2020 thì sẽ không thể đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt là vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn...

Tăng vốn cho Agribank: Cần thiết và cấp bách (Bài 2)
Tăng vốn cho Agribank: Cần thiết và cấp bách (Bài 1)
Ngân hàng tăng vốn mở rộng kinh doanh

Vì sao tăng vốn lại là cấp bách?

Sau khi Chính phủ có tờ trình bổ sung vốn điều lệ cho Agribank, Ủy ban kinh tế cũng đã có riêng báo cáo thẩm tra về việc bổ sung vốn điều lệ của Agribank gửi tới Quốc hội. Tựu chung cả hai báo cáo trên đều nhấn mạnh đến sự cấp thiết và cần thiết tăng vốn cho Agribank.

Nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng vốn cho Agribank, tại tờ trình của Chính phủ có viết, Agribank là NHTM do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, có một vị trí quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò chủ đạo trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Những năm gần đây, kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank có những cải thiện rõ nét, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế và lợi nhuận.

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, Agribank chưa được nhà nước đầu tư bổ sung vốn điều lệ, tốc độ tăng vốn điều lệ luôn thấp hơn tốc độ tăng tổng tài sản, khiến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng bị suy giảm. Vốn điều lệ của Agribank hiện đạt 30.591 tỷ đồng. Nếu tính theo chuẩn mực vốn Basel II (được hướng dẫn tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016), thời điểm 31/3/2020, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng này chỉ đạt 6,9% (không đảm bảo yêu cầu vốn tối thiểu 8% theo quy định).

Tăng vốn cho Agribank là cần thiết

Sự cần thiết tăng vốn điều lệ cho Agribank là chủ trương đã được Bộ Chính trị kết luận. Agribank là NHTM do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nước và đóng vai trò chủ đạo trong cấp tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính nhưng Agribank vẫn chưa đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II có hiệu lực từ ngày 1/1/2020. Do đó, tăng vốn điều lệ cho Agribank sẽ góp phần tăng năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, tăng cường vai trò và đóng góp của Agribank cho nền kinh tế, phù hợp với quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Đồng thời, đáp ứng được tỷ lệ bảo đảm an toàn của Agribank nói riêng và an toàn hệ thống tài chính quốc gia nói chung, hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế.

Thông tin cụ thể hơn, Phó Tổng giám đốc Agribank bà Nguyễn Thị Phượng cho biết, để đáp ứng chuẩn mực vốn Basel II, mức vốn tự có thiếu hụt của Agribank giai đoạn 2019 - 2021 là rất lớn. Do chưa đáp ứng chuẩn mực vốn Basel II nên Agribank hiện đang được NHNN cho phép thực hiện tỷ lệ an toàn vốn theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019. Thời điểm 31/3/2020, tỷ lệ an toàn vốn của Agribank theo Thông tư 22 chỉ đạt 9,2%, đã sát ngưỡng tối thiểu quy định (9%). Mặc dù đã áp dụng tất cả các giải pháp tăng vốn từ lợi nhuận hàng năm, phát hành trái phiếu… Agribank vẫn cần được nhà nước cấp bổ sung 3.500 tỷ đồng.

Nếu không tăng vốn điều lệ cho Agribank ngay trong năm 2020 thì sẽ không thể đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt là vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Các chỉ tiêu tăng trưởng của Agribank bị ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng đến an toàn trong hoạt động ngân hàng, giảm vị thế, vai trò trong hệ thống các TCTD và nguy cơ hạ mức xếp hạng tín nhiệm từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế là hiện hữu. Khi đó Agribank sẽ không đảm bảo được vai trò chủ lực trong việc thực thi chính sách của Chính phủ về phát triển nông nghiệp nông thôn, cũng như ảnh hưởng lớn đến việc triển khai hiệu quả các chính sách giảm nghèo bền vững của Chính phủ.

“Trường hợp không được cấp đủ 3.500 tỷ đồng để tăng vốn điều lệ trong năm 2020, Agribank sẽ phải giảm dư nợ cho vay xuống còn 4,5-5%, nghĩa là phải giảm dư nợ cho vay nền kinh tế 60.000 tỷ đồng, điều này đồng nghĩa với việc hàng chục ngàn khách hàng không có cơ hội tiếp cận vốn, trong khi đó chỉ riêng hỗ trợ hộ sản xuất và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, Agribank đã cần phải tăng trưởng tín dụng ở mức 9% (tương đương 100 ngàn tỷ đồng), chưa kể cho vay khác phục vụ nông nghiệp, nông thôn”, bà Phượng bày tỏ lo ngại.

Nguồn tăng lấy từ đâu

Theo tờ trình của Chính phủ trình Quốc hội đưa vào Nghị quyết chung của kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV cho phép bổ sung dự toán chi NSNN năm 2020 để bổ sung vốn điều lệ cho Agribank từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương năm 2019 tương ứng với số lợi nhuận sau thuế thực nộp NSNN năm 2020 của Agribank, tối đa không quá 3.500 tỷ đồng. Trong những năm qua, Agribank đánh dấu sự trở lại đường đua ngân hàng bằng kết quả vượt trội nhờ triển khai tái cơ cấu thành công. Năm 2017-2019 đạt lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, riêng năm 2019 nộp NSNN 6.300 tỷ đồng trong đó nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2.670 tỷ đồng và lợi nhuận còn lại nộp NSNN 3.630 tỷ đồng.  Năm 2020, mặc dù bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19, biến đổi khí hậu, diễn biến thiên tai khó dự báo, cùng với việc triển khai hàng loạt giải pháp, chương trình hỗ trợ khó khăn cho khách hàng, bà Phượng cho biết, Agribank quyết tâm nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn, thực hiện tiết giảm chi phí… phấn đấu đạt lợi nhuận trên 11.000 tỷ đồng, lợi nhuận nộp ngân sách tối thiểu đạt 3.500 tỷ đồng (chưa bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp).

Việc cho phép Agribank được cấp bổ sung 3.500 tỷ đồng để tăng vốn theo giới chuyên môn đánh giá là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. TS. Võ Trí Thành cho rằng, thời điểm này khi các ngân hàng còn có lợi nhuận tốt nên tận dụng nguồn lực tài chính này để thực hiện tăng vốn.

TS. Cấn Văn Lực thì nhấn mạnh, ngân sách đang khó khăn, song không thể lấy đó để trì hoãn tăng vốn cho các NHTM nhà nước. Không chỉ để củng cố an toàn hoạt động của hệ thống, việc tăng vốn cho ngân hàng sẽ giúp ngân sách hưởng lợi lâu dài, khi ngân hàng khỏe mạnh hơn, đóng thuế nhiều hơn. “Chẳng hạn chúng ta đầu tư 3.500 tỷ đồng vào một dự án thì có lẽ hệ số lan tỏa của dự án này còn lâu hơn và nhỏ hơn so với việc đưa vốn vào Agribank để qua đó sự lan tỏa rộng lớn hơn từ việc cho vay, tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập cho người dân ở nông thôn… Nhất là hỗ trợ các đối tượng chính sách, vùng đặc biệt khó khăn, thực hiện các chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, góp phần xóa đói giảm nghèo”, ông Lực phân tích thêm. Có quan điểm tương đồng, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, nguồn ngân sách hiện đang rất eo hẹp nhưng đó không phải lý do để “từ chối” cấp vốn cho các NHTM nhà nước nói chung và Agribank nói riêng.  Ngân hàng luôn là huyết mạch của nền kinh tế các quốc gia, bảo vệ sức khỏe của ngân hàng cũng là bảo vệ sức khỏe của nền kinh tế các quốc gia. Trong các cuộc khủng hoảng lớn, Mỹ bao giờ cũng cứu nền kinh tế thông qua ưu tiên cứu các NHTM lớn. Tăng vốn ngân hàng chính là sự lựa chọn đúng đắn thời điểm này, bởi ngân hàng đứng vững sẽ hỗ trợ tốt nhất cho nền kinh tế.

Với Việt Nam, ngân sách eo hẹp lại càng buộc phải đưa ra lựa chọn đầu tư cẩn trọng cho phù hợp. “Tài trợ để các ngân hàng đứng vững là quan trọng nhất. Bởi Chính phủ muốn có sức mạnh tài chính lớn thì phải củng cố tài chính cho 4 ngân hàng quốc doanh - đây là 4 ngân hàng có thể hợp vốn để thực hiện các dự án phải huy động nguồn vốn lên tới hàng nghìn tỷ đồng như sân bay, cơ sở hạ tầng… Hơn nữa, trong thời gian qua do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên rủi ro với các ngân hàng này càng lớn. Với Agribank, việc ưu tiên tăng vốn càng quan trọng, vì ngân hàng này đang phục vụ chủ yếu khu vực tam nông - khu vực trọng yếu của nền kinh tế và bị tác động mạnh bởi Covid-19”, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh.

Phân tích thêm về hiệu quả kinh tế - xã hội của việc bổ sung vốn điều lệ cho Agribank, ông Phạm Xuân Hòe, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng thì cho rằng, cấp vốn cho các NHTM nhà nước thì về bản chất chính là ngân sách đầu tư 1 khoản tiền vào đó để sinh lời. Nhận định trên hoàn toàn có cơ sở. Nếu nhìn vào hoạt động kinh doanh của Agribank trong giai đoạn 2014 - 2019 có thể thấy, trong vòng 5 năm qua, nhà băng này luôn tăng trưởng ổn định, lợi nhuận tăng dần qua từng năm. Trong đó năm 2018 đạt 7.552 tỷ đồng, năm 2019 đạt mức lợi nhuận trước thuế cao nhất trong giai đoạn với 13.804 tỷ đồng. Các chỉ số sinh lời những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực (ROE, ROA tăng đều qua các năm từ 4,53% năm 2014 lên 17,6% năm 2019); chất lượng tín dụng cũng từng bước được kiểm soát hiệu quả, tỷ lệ nợ xấu nội bảng các năm giai đoạn 2014-2019 giảm dần, quy mô hoạt động đến 31/12/2019 đã tăng gấp 2 lần so với thời điểm 31/12/2014. Chưa kể tới đây, Agribank thực hiện cổ phần hóa thì phần vốn của nhà nước tại Agribank cũng lớn lên. Với việc được tăng thêm vốn điều lệ, năm 2021 và các năm tiếp theo, bà Phượng cho biết sẽ giúp Agribank có điều kiện phát hành bổ sung trái phiếu tăng vốn (50% vốn cấp I tăng thêm), tạo điều kiện tăng dư nợ cho vay tương ứng, doanh thu tăng thêm từ 4.500 tỷ đồng đến 5.000 tỷ đồng. Theo đó, Agribank sẽ tăng nộp ngân sách nhà nước tương ứng 900- 1.000 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận còn lại khoảng 1.000-1.200 tỷ đồng. Mặt khác, tạo điều kiện để Agribank hoàn thành các mục tiêu theo Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2016- 2020 đã được NHNN phê duyệt, tạo đà để tăng trưởng và phát triển, gia tăng giá trị doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình cổ phần hóa và gia tăng giá trị thặng dư cổ phần hóa.

Agribank được tăng vốn, đồng nghĩa với việc hàng triệu hộ nông dân, doanh nghiệp có nguồn vốn rẻ đầu tư sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, tăng lợi nhuận và doanh thu, nộp thuế cho nhà nước, đóng góp tích cực vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, ổn định xã hội.

Viết Chung

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080