Tháo gỡ “điểm nghẽn” để khơi thông nguồn lực từ khu vực FDI
| Nghịch lý FDI: “Người khổng lồ” kinh tế hóa “tí hon” trên sàn chứng khoán Khu công nghiệp sinh thái: “Nam châm” hút dòng vốn FDI thế hệ mới |
Bức tranh “lệch pha” giữa 2 khu vực
Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn đạt trên 38,4 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện dự án đạt trên 27,6 tỷ USD, tăng 9% so với năm trước. Bước sang 6 tháng đầu năm 2026, đà tăng trưởng tiếp tục bùng nổ khi tổng vốn đăng ký đạt 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ và vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%. Sự gia tăng đồng loạt ở cả 3 cấu phần - với vốn đăng ký mới tăng 87,2%, góp vốn mua cổ phần tăng 89,5% và vốn mở rộng tăng 23,5% - phản ánh rõ nét xu hướng các NĐT hiện hữu liên tục mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Khối FDI hiện đóng góp tới 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trở thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực tự chủ kinh tế.
Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với vị thế áp đảo ở khu vực kinh tế thực, sự tham gia của các doanh nghiệp FDI trên thị trường chứng khoán (TTCK) lại rơi vào tình trạng “lệch pha” rất lớn. Kể từ khi TTCK Việt Nam đi vào vận hành đến nay, chỉ có 11 doanh nghiệp FDI từng niêm yết hoặc đăng ký giao dịch. Tính đến hiện tại, số lượng này thu hẹp chỉ còn 10 doanh nghiệp trên tổng số gần 1.600 doanh nghiệp đang hoạt động trên sàn. Xét về mặt quy mô, tổng vốn điều lệ của nhóm này đạt 12.629 tỷ đồng và tổng tài sản đạt 44.696 tỷ đồng, lần lượt chỉ chiếm 0,15% và 0,48% toàn thị trường. Đáng chú ý, mặc dù từ năm 2017 đến nay đã có 4 doanh nghiệp FDI chuyển đổi thành công ty đại chúng, thị trường vẫn không ghi nhận thêm bất kỳ trường hợp niêm yết hay đăng ký giao dịch mới nào từ khối này. Thực trạng đó cho thấy dư địa để khai thác và gắn kết khối doanh nghiệp FDI với thị trường vốn Việt Nam còn rất lớn.

5 nhóm “điểm nghẽn” về cam kết đầu tư
Phân tích nguyên nhân sâu xa của khoảng trống pháp lý kéo dài hơn 2 thập kỷ, ông Hoàng Văn Thu, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, ngay từ giai đoạn 1999-2003, Việt Nam đã có các quy định cho phép doanh nghiệp TNHH FDI chuyển đổi thành công ty cổ phần và thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2014, giữa các cơ quan quản lý còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc cho phép doanh nghiệp FDI niêm yết nên tiến trình xử lý hồ sơ bị ngắt quãng và kéo dài.
Bước ngoặt chỉ thực sự diễn ra khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được sửa đổi vào các năm 2014 và 2020, chính thức xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt giữa vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp. Định hướng mở cửa này tiếp tục được khẳng định nhất quán trong Nghị quyết số 50-NQ/TW năm 2019 và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, xác định khu vực FDI là bộ phận hợp thành quan trọng không thể tách rời của nền kinh tế Việt Nam. Đến năm 2025, Bộ Tài chính đã chủ trì báo cáo toàn diện và nhận được sự đồng thuận hoàn toàn từ Thủ tướng Chính phủ về chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia TTCK.
Mặc dù quy định pháp luật về chứng khoán hiện hành hoàn toàn bình đẳng và không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, nhưng trên thực tế, quy trình thẩm định hồ sơ IPO đối với khối FDI vẫn vấp phải những rào cản mang tính lịch sử. Qua kết quả rà soát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, các cơ quan quản lý cho biết có 5 nhóm trường hợp doanh nghiệp FDI hiện còn vướng các điều kiện, cam kết với Chính phủ Việt Nam cần phải giải quyết triệt để trước khi được phép niêm yết công khai.
Nhóm vướng mắc đầu tiên liên quan đến các doanh nghiệp khi cấp phép đầu tư được hưởng ưu đãi thuế đi kèm các cam kết nghĩa vụ đối với chính quyền địa phương, đòi hỏi doanh nghiệp bắt buộc phải hoàn thành triệt để các nghĩa vụ đã cam kết sau một thời gian hoạt động thì mới đủ điều kiện tham gia thị trường vốn công chúng. Nhóm thứ hai bao gồm các doanh nghiệp thực hiện dự án thuộc các ngành nghề bị ràng buộc bởi các hiệp định, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp thuộc diện sau khi hết thời hạn đầu tư bắt buộc phải bàn giao toàn bộ tài sản không bồi hoàn cho Chính phủ Việt Nam, điển hình như các dự án hạ tầng theo hợp đồng BOT.
Nhóm vướng mắc thứ tư xuất phát từ các NĐT thực hiện dự án thông qua hình thức đấu thầu, nơi hợp đồng ký kết với Chính phủ chứa đựng các điều kiện cam kết rất cụ thể, đặc biệt là các ràng buộc hạn chế chuyển nhượng vốn cho các NĐT khác. Cuối cùng, nhóm thứ năm bao gồm các doanh nghiệp chịu các thỏa thuận điều kiện đầu tư trực tiếp riêng biệt với Chính phủ. Do TTCK tác động trực tiếp đến lợi ích của đông đảo công chúng đầu tư, việc kiểm soát và yêu cầu gỡ bỏ hoàn toàn 5 nhóm ràng buộc này là bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NĐT. Khi các nghĩa vụ này được giải quyết trọn vẹn, doanh nghiệp FDI sẽ bình đẳng tham gia niêm yết như mọi doanh nghiệp nội địa.
Dưới góc nhìn của đơn vị tư vấn pháp lý trực tiếp hỗ trợ các tập đoàn quốc tế, bà Tina LeDinh, Luật sư Điều hành Công ty Luật A&O Shearman cho biết, quy trình chuẩn bị IPO đối với doanh nghiệp FDI đòi hỏi sự chuẩn bị công phu hơn so với doanh nghiệp trong nước. Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý và các đơn vị tư vấn sẽ tiến hành kiểm tra toàn diện việc thực hiện các cam kết phi tài chính nêu trong giấy phép đầu tư. Đối với các tập đoàn công nghệ lớn, cam kết không chỉ dừng lại ở việc góp đủ vốn điều lệ, mà còn bao gồm nghĩa vụ chuyển giao công nghệ, thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như đào tạo nhân lực Việt Nam làm chủ công nghệ đó. Doanh nghiệp phải xuất trình đầy đủ tài liệu, chứng từ xác nhận từ các bộ, ngành và chính quyền địa phương về việc đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, phí cũng như các điều kiện đi kèm ưu đãi xuất nhập khẩu.
Bên cạnh khâu thẩm định nghĩa vụ, một kỹ thuật pháp lý quan trọng do bà Tina LeDinh chỉ ra là thực hiện ánh xạ (mapping). Đơn vị tư vấn sẽ rà soát từng mã ngành nghề kinh doanh thực tế của doanh nghiệp FDI với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để xác định chính xác tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa cho phép (room ngoại có thể đạt 50% hoặc cao hơn tùy ngành). Doanh nghiệp sẽ chủ động thiết kế cấu trúc vốn sau IPO đáp ứng đúng quy định công ty đại chúng và kỳ vọng của NĐT. Đồng thời, doanh nghiệp phải nâng cấp hạ tầng tài chính để đáp ứng việc lập báo cáo định kỳ theo quý, kiểm toán bán niên, công bố thông tin bất thường trong vòng 24 đến 72 giờ và cơ cấu lại HĐQT đảm bảo tối thiểu 30% thành viên độc lập.
Thể chế mới tạo kỳ vọng làn sóng IPO FDI
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa thị trường vốn trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực, giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng theo Nghị quyết 10-NQ/TW, Bộ Tài chính và UBCKNN đang đẩy nhanh lộ trình hoàn thiện thể chế. Trong giai đoạn 2026-2027, cơ quan quản lý tập trung sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán và rà soát xử lý các quy định chồng chéo nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các sản phẩm mới. Đặc biệt, năm 2027 sẽ đánh dấu mốc chính thức đưa vào vận hành cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP), giải quyết triệt để yêu cầu ký quỹ và thanh toán cho NĐT quốc tế. Tiếp đó, giai đoạn 2028-2029 sẽ ban hành khung pháp lý phân loại tài sản số tiến tới xây dựng Luật Tài sản số và đến năm 2030 sẽ xây dựng Luật Quản lý giám sát thị trường tài chính.
Hướng tới mục tiêu dài hạn đến năm 2045 theo Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính, Việt Nam phấn đấu nâng quy mô vốn hóa TTCK đạt 120% GDP và tổng dư nợ thị trường trái phiếu đạt 60% GDP. Định hướng xuyên suốt của cơ quan quản lý là tập trung thu hút các doanh nghiệp FDI không còn bị ràng buộc bởi các điều kiện riêng về chuyển đổi mô hình và chuyển nhượng cổ phần tham gia TTCK thông qua việc khuyến khích chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng gắn liền với niêm yết.
Theo các chuyên gia, sự chủ động gỡ bỏ 5 “điểm nghẽn” từ phía cơ quan quản lý, kết hợp với việc FTSE Russell chính thức nâng hạng thị trường ngày 21/9/2026 và hạ tầng giao dịch hiện đại theo Thông tư 08/2026/TT-BTC được kỳ vọng sẽ tạo nên cú hích mới. Việc đón nhận các tập đoàn FDI niêm yết không chỉ giúp đa dạng hóa hàng hóa tài chính, nâng cao chuẩn mực quản trị công ty theo thông lệ toàn cầu, mà còn là minh chứng mạnh mẽ cho năng lực của thị trường vốn Việt Nam trong việc hấp thụ và lan tỏa các nguồn lực đầu tư quốc tế.
Tin liên quan
Tin khác
Nâng hạng mở cửa dòng vốn, nhưng tiền ngoại có ở lại?
Phố Wall chịu sức ép từ giá dầu và lạm phát
Blue-chip trở lại trợ lực, VN-Index bật tăng gần 9 điểm
MCH vào VN30, FTSE Global All Cap: Điều gì đang thay đổi với cổ phiếu Masan Consumer?
Khối ngoại mua ròng trên HNX và UPCoM, giao dịch phái sinh VN30 tăng gần 13%
Bồi đắp hệ sinh thái vốn dài hạn cho nền kinh tế
VN-Index tăng 5,55% trong tháng 8, vốn hóa HOSE vượt 8,84 triệu tỷ đồng
Phố Wall nghỉ lễ, nhà đầu tư chờ CPI
Dòng tiền ETF dịch chuyển trước bước ngoặt nâng hạng


