Thấy gì sau khi gia nhập WTO

09:18 | 18/09/2015

Một điều dễ nhận thấy là sau khi gia nhập WTO, các loại hình sản phẩm, dịch vụ NH ngày càng đa dạng hơn, các dịch vụ, phương thức thanh toán phát triển mạnh, có nhiều dịch vụ, phương thức mới, hiện đại dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. 

Theo lịch trình phiên họp thứ 41, hôm nay (18/9), Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ nghe Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu, Trưởng đoàn giám sát trình bày báo cáo giám sát về kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Gia nhập WTO tạo cơ hội cho việc phát triển nhiều sản phẩm mới

Nỗ lực mở cửa thị trường chứng khoán

Theo báo cáo giám sát, sau khi gia nhập WTO, thị trường chứng khoán (TTCK) đã thu hút được sự quan tâm lớn của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mức vốn hóa thị trường năm 2014 đạt 1.121 nghìn tỷ đồng, gấp 2,27 lần so với mức của năm 2007; mức vốn hóa bình quân năm giai đoạn 2007-2014 là 994 nghìn tỷ đồng, gấp 4,19 lần so với mức bình quân năm giai đoạn 2001-2006.

Các dịch vụ chứng khoán được cung cấp bởi các tổ chức kinh doanh chứng khoán ngày càng đa dạng, gồm các dịch vụ như tư vấn đầu tư, môi giới, bảo lãnh phát hành (đối với công ty chứng khoán); hoặc dịch vụ tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư (đối với công ty quản lý quỹ).

Nhờ đó, tự do hóa các dịch vụ chứng khoán được thúc đẩy, hoạt động đầu tư trên TTCK lành mạnh hơn, chất lượng dịch vụ trên thị trường được nâng cao hơn, nghiệp vụ của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tiếp cận dần với các chuẩn mực quốc tế.

Gia nhập WTO tạo cơ hội cho việc phát triển nhiều sản phẩm mới, các sản phẩm quỹ đầu tư được thay thế dần từ hệ thống các quỹ đóng bằng các quỹ mở, quỹ đại chúng hoạt động linh hoạt hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chuẩn bị hình thành TTCK phái sinh (dự kiến vận hành năm 2016); hình thành cơ chế tài chính cho quỹ đầu tư bất động sản, đề án phát triển hệ thống các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí; phát triển thị trường trái phiếu chuyên biệt... góp phần thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp, đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường.

“Từ tháng 6/2015, Chính phủ đã cho phép tăng tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam, điều này thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc tiếp tục mở cửa hơn nữa TTCK phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, báo cáo giám sát cho hay.

Riêng với thị trường tiền tệ, sau khi gia nhập WTO, thị trường tiền tệ đứng trước những thách thức không nhỏ, tín dụng tăng trưởng nóng. Quy mô dư nợ tín dụng không ngừng tăng lên, từ mức trung bình gần 400 nghìn tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2001-2006 đã lên mức trung bình 3.332 nghìn tỷ đồng/năm giai đoạn 2007 đến nay, cao gấp 8,3 lần giai đoạn trước.

Tăng tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ

Việc nâng cao tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ, hoàn thiện chức năng NHTW của NHNN Việt Nam tiếp tục được đổi mới với việc ban hành Luật NHNN Việt Nam, Luật Các TCTD năm 2010.

Từ năm 2007 đến nay, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng thận trọng, linh hoạt, góp phần thực hiện các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Công tác quản lý giao dịch vãng lai tiếp tục được tự do hoá, các biện pháp hạn chế sử dụng ngoại tệ trong nước góp phần kiểm soát hiện tượng sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam. Hoạt động thanh toán qua NH tại các khu vực biên giới ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại biên mậu, đầu tư phát triển.

Để bảo đảm sự ổn định của hệ thống NH, Việt Nam đã được nhiều tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF... hỗ trợ thực hiện nhiều cải cách, trong đó có việc từng bước áp dụng các chuẩn mực an toàn vốn của Basel...

Một điều dễ nhận thấy là sau khi gia nhập WTO, các loại hình sản phẩm, dịch vụ NH ngày càng đa dạng hơn, các dịch vụ, phương thức thanh toán phát triển mạnh, có nhiều dịch vụ, phương thức mới, hiện đại dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin.

Dịch vụ thẻ thanh toán bắt đầu phát triển từ năm 1996 sau khi Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, nhưng phải đến thời điểm năm 2006-2007 khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO dịch vụ này mới bắt đầu phát triển sôi động cùng với chủ trương triển khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 (Quyết định - số 291/2006/ QĐ-TTg).

Thực hiện cam kết WTO, các chi nhánh NH nước ngoài đã được đối xử đầy đủ như các NHTM Việt Nam, trừ hoạt động góp vốn, mua cổ phần và các hoạt động mà NH nước ngoài không được phép thực hiện tại nơi đặt trụ sở chính. Khối NH nước ngoài có ưu thế vượt trội hơn so với các NHTM trong nước về chất lượng dịch vụ.

Người dân, DN hưởng lợi

Báo cáo giám sát nhận định, hội nhập kinh tế mang lại cơ hội tăng thu nhập cho người dân, người lao động. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 43,4 triệu đồng, gấp 2,93 lần so với năm 2007. Tỷ lệ tăng tiền lương thực tế đạt 8%, cao hơn so với tốc độ tăng GDP cùng thời kỳ, mức tiền lương của lao động làm công ăn lương tăng 12,2%/năm. Thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm bình quân đầu người một tháng tăng so với trước khi gia nhập WTO. So với thời điểm gia nhập WTO, số lượng DN Việt Nam đã tăng lên đáng kể, lao động của DN ngoài nhà nước và DN FDI tăng lần lượt là 2.921,3 và 1.365 nghìn lao động. Vốn sản xuất kinh doanh của ba khu vực DN nhà nước, ngoài nhà nước, FDI tăng lần lượt là 2,79 lần; 6,05 lần; 4,41 lần. Như vậy, sau khi gia nhập WTO DN đang phát triển theo xu hướng tích cực.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Tags: Kinh tế WTO

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700