Thị phần hàng không dần có sự dịch chuyển

09:20 | 26/07/2019

Các hãng hàng không tư nhân đang thu hẹp khoảng cách về thị phần với hãng hàng không Quốc gia. 

Hãng hàng không là doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không, bao gồm: vận chuyển hàng không (khách hàng, hành lý...), quảng cáo, tiếp thị, bán sản phẩm hàng không (vé) trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Tại Việt Nam hiện có các hãng hàng không: Vietnam Airlines, Jetstar Pacific Airlines, Công ty cổ phần Hàng không Vietjet, Bamboo Airways.

Vietnam Airlines đưa tàu bay thế hệ mới Boeing 787 vào khai thác

Theo chiến lược kinh doanh và cách định giá, người ta thường chia các hãng hàng không ra làm hai loại: hãng hàng không truyền thống (như Vietnam Airlines) và hãng hàng không giá rẻ (Jetstar Pacific Airlines, Vietjet Air). Bamboo Airways được định vị trở thành hãng hàng không Hybrid đầu tiên tại Việt Nam, mang tới cho hành khách những tấm vé rẻ nhất nhưng vẫn cung cấp đầy đủ các dịch vụ tiện ích đến hành khách (là phân khúc nằm giữa 2 loại hãng hàng không trên). Theo mức ưu đãi thị phần, người ta chia thành hãng hàng không quốc gia và hãng hàng không tư nhân.

Số liệu mà các hãng hàng không ghi nhận, trong 6 tháng đầu năm 2019 đã có sự dịch chuyển đáng kể tại thị trường hàng không nội địa. Cụ thể, tổng khách vận chuyển đạt 18,3 triệu khách, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018, với thị phần như sau: Vietnam Airlines chiếm 35,08%, VASCO là 1,7%, Vietjet chiếm 41,34%, Jetstar Pacific chiếm 14,8% và Bamboo Airways chiếm 7,06% (tháng 1/2019 hãng chỉ chiếm 1,1% thị phần).

Đối chiếu trên bảng thị phần bay nội địa này, với Vietnam Airlines, trong 6 tháng đầu năm vẫn duy trì lượng hành khách ổn định, cụ thể, từ tháng 1/2019, hãng này vẫn vận tải khoảng trên 35% thị phần khách nội địa hàng không. Con số này vẫn giữ nguyên cho đến tháng 6/2019, hãng này cũng ghi nhận mức lãi 1.650 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2019, vượt chỉ tiêu kế hoạch 30%, tổng doanh thu 51.662 tỷ đồng. Tuy nhiên, các hãng hàng không tư nhân đang thu hẹp khoảng cách về thị phần với hãng hàng không Quốc gia.

Giải thích về điều này, đại diện Vietnam Airlines cho rằng tổng tải cung ứng toàn thị trường tăng trưởng nhanh – hay nói cách khác là việc có thêm lượng cung từ các hãng đối thủ. Trong khi đó, hạ tầng hàng không chưa đáp ứng đủ khi các sân bay, làm tăng giờ bay thực tế, qua đó làm tăng chi phí vận hành khai thác.

Câu chuyện của Vietnam Airlines không phải là ngoại lệ. Tại các nước trong khu vực, các hãng hàng không truyền thống từ lâu đã phải đối mặt với cuộc cạnh tranh từ các đối thủ hàng không chi phí thấp. Câu chuyện của Vietnam Airlines cũng chính là thực trạng và xu hướng chung của các hãng hàng không truyền thống trên thế giới.

Ông Dương Trí Thành, Tổng giám đốc Vietnam Airlines chia sẻ, trong chiến lược và định hướng phát triển dài hạn đến năm 2020, chúng tôi đặt mục tiêu tiếp tục khẳng định vị thế chủ lực của hãng hàng không quốc gia trên thị trường trong nước và tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, trở thành hãng hàng không có tầm cỡ tại khu vực Đông Nam Á.

Bên cạnh việc củng cố, phát triển mạng bay thông qua hai căn cứ là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi đẩy mạnh hợp tác với các đối tác trong và ngoài liên minh SkyTeam để nâng cao khả năng khai thác trên mạng đường bay trọng điểm, đảm bảo quy mô mạng bay, chất lượng dịch vụ 4 sao và hình ảnh trên toàn cầu.

Chiến lược phát triển của Vietnam Airlines trên thị trường nội địa gồm hai nhóm chính. Thứ nhất, tiếp tục phát triển như hãng nội địa duy nhất có dịch vụ chất lượng 4 sao, có mạng bay kết hợp quốc tế – nội địa, phục vụ đa dạng nhu cầu khách hàng, nắm chắc nhóm khách hàng có yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ.

Thứ hai, thực hiện chiến lược thương hiệu kép (Dual-brand) giữa Vietnam Airlines và Jetstar Pacific, phối hợp toàn diện về sản phẩm, mạng bay, chính sách bán, tiếp thị… tập trung trên các đường bay trục nhằm bao phủ dải sản phẩm, phục vụ mọi đối tượng khách hàng thông qua mạng bay và tần suất phối hợp, giữ thị phần của VNA Group (gồm Vietnam Airlines, Jetstar Pacific và Vasco) đến 2020 ở mức trên dưới 60%.

Trên thị trường quốc tế, chúng tôi tiếp tục duy trì chiến lược cạnh tranh bằng mạng bay trực tiếp, dẫn đầu về số lượng đường bay thẳng quốc tế, cung cấp đa dạng điểm đến, giờ bay hợp lý với chất lượng dịch vụ 4 sao đẳng cấp quốc tế. Về thị phần, chúng tôi đặt mục tiêu đến 2020 duy trì ở mức trên dưới 30%, ông Thành nhấn mạnh.

Đức Hiền

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950