Thị trường vàng 24/4: Điều chỉnh giảm nhưng triển vọng sáng nhờ hưởng lợi từ Fed

09:17 | 24/04/2020

Các chuyên gia dự đoán vàng có thể giao dịch ở mức cao là 1.880 USD/oz vào cuối năm nay. Thậm chí, họ tin rằng vào quý II/2021, giá vàng sẽ phá vỡ mức cao kỷ lục 1.900 USD và giao dịch cao tới 2.000 - 2.300 USD/oz.

thi truong vang 244 tiep tuc huong loi tu fed Thị trường vàng 23/4: Bật tăng với kỳ vọng dài hạn tích cực
thi truong vang 244 tiep tuc huong loi tu fed Thị trường vàng 22/4: Có dấu hiệu kỹ thuật của xu hướng giá lên
thi truong vang 244 tiep tuc huong loi tu fed

Tính đến 9h sáng nay (24/4), giá vàng giao ngay trên thế giới giảm 8,4 USD/oz (0,48%) so với cuối phiên gần nhất, chốt ở mức 1.724,2 USD/oz. Giao dịch trong phiên dao động quanh các mức 1.708,8 - 1.745,4 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng tương lai tháng 6 trên sàn Comex giảm 0,3 USD (0,02%) so với cuối phiên trước, hiện đang ở mức 1.745,1 USD/oz. Hôm qua, tính đến gần cuối phiên, giá vàng tháng 6 đã tăng gần 50 USD trong ngày.

Chốt phiên hôm qua, giá vàng hợp đồng tương lai đã tăng 300 USD trong 6 tuần, từ mức 1.450 đến 1750 USD. Trươc đó, vàng có lần tăng tương tự vào năm 2011. Đáng chú ý, trong cả hai lần tăng, nguyên nhân cơ bản đều do việc nới lỏng định lượng và chính sách tiền tệ tự do của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Mặc dù, lý do khiến Fed hành động là hoàn toàn khác nhau, nhưng đều có tác dụng tương tự, là khiến giá vàng tăng cao đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn.

Cuộc khủng hoảng hiện nay phức tạp hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng năm 2008, vì nó đang ảnh hưởng đến hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Đại dịch Covid-19 khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại nặng nề hơn những gì đã được chứng kiến kể từ cuộc đại suy thoái 2008.

Ngày 15/3, Fed đã tuyên bố tái khởi động chương trình nới lỏng định lượng, mua 500 tỷ USD trái phiếu và 200 tỷ USD chứng khoán thế chấp trong vài tháng tới.

Trong khi các ngân hàng cố gắng giữ cho nhiều doanh nghiệp tiếp tục hoạt động, thì vấn đề lớn nhất là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng khi đại dịch gần như đã đặt cả thế giới vào tình trạng phong tỏa vô hình. Hàng triệu việc làm đã bị xáo trộn hoặc mất đi, và nhiều người không thể đủ thu nhập để lo cho gia đình.

Chính vì lý do đó, nền kinh tế toàn cầu sẽ phải mất nhiều năm để hồi phục khi đại dịch lắng xuống, bằng cách tạo ra một loại vắc-xin hoặc thuốc hiệu quả để ngăn chặn sự lây lan của virus.

Fed cũng như nhiều ngân hàng trung ương khác đang cố gắng giảm thiểu và khắc phục hậu quả do đại dịch toàn cầu này gây ra bằng các động thái tích cực nhất. Những hành động này hầu hết đều dẫn đến phá giá tiền tệ, điều này khiến các nhà đầu tư mong muốn chuyển dòng vốn vào kênh trú ẩn an toàn như vàng.

Đây cũng là nguyên do mà nhiều nhà phân tích đang dự báo giá vàng sẽ cao hơn nhiều vào cuối năm nay. Ngân hàng tư nhân Thụy Sĩ Union Bancaire Privee (UBP) tin rằng giá vàng sẽ lên mức cao kỷ lục là 1.920 USD/oz. Trước đó, Bank of America đưa dự báo vàng có thể đạt 3.000 USD/oz trong vòng 18 tháng tới.

Còn về khía cạnh kỹ thuật, các chuyên gia dự đoán vàng có thể giao dịch ở mức cao là 1.880 USD/oz vào cuối năm nay. Thậm chí, họ tin rằng vào quý II/2021, giá vàng sẽ phá vỡ mức cao kỷ lục 1.900 USD và giao dịch cao tới 2000 - 2300 USD/oz.

thi truong vang 244 tiep tuc huong loi tu fed

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM hiện đang ở mức 47,75 - 48,40 triệu đồng/lượng, giảm 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và chiều bán so với cuối phiên trước đó.

Tương tự, tại Hà Nội, giá vàng SJC hiện đang ở mức 47,75 - 48,42 triệu đồng/lượng, giảm 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và chiều bán so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI hiện niêm yết giá vàng AVPL tại TP.HCM ở mức 47,85 - 48,30 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giữ nguyên giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng AVPL của DOJI đang được niêm yết ở mức 47,85 - 48,20 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800