Thị trường vàng ngày 16/7: Hạ nhiệt sau khi đạt mức đỉnh một tháng

09:02 | 16/07/2021

Mặc dù giá vàng hạ nhiệt trong phiên sáng nay nhưng theo các chuyên gia, việc Fed không hành động để hạn chế sự gia tăng của lạm phát sẽ khiến giá vàng tiếp tục được hưởng lợi.

thi truong vang ngay 167 ha nhiet sau khi dat muc dinh mot thang Thị trường vàng ngày 15/7: Tăng mạnh sau phát biểu của Chủ tịch Fed
thi truong vang ngay 167 ha nhiet sau khi dat muc dinh mot thang Thị trường vàng ngày 14/7: 'Lình xình' khó hiểu
thi truong vang ngay 167 ha nhiet sau khi dat muc dinh mot thang

Tính đến 9h sáng nay (16/7) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 2,3 USD/oz (-0,13%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.827,1 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.819,8 - 1.834,7 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng Tám giảm 0,7 USD/oz (-0,04%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.829,8 USD/oz.

Tính đến cuối giờ chiều qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 0,1%; trong khi giá vàng hợp đồng tương lai tăng 0,3%.

Sáng nay, giá vàng hạ nhiệt sau khi liên tiếp tăng và đạt mức đỉnh một tháng, thể hiện hiệu ứng tốt từ việc lạm phát tiếp tục tăng nóng, cùng với đó là phát biểu mang tính ôn hòa của Chủ tịch Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) Powell trước Quốc hội.

Theo đó, tuyên bố của ông Powell cho thấy rõ rằng Fed sẵn sàng tiếp tục để lạm phát tăng cao hơn mà không can thiệp, bất chấp chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát mà Fed ưa thích - đã tăng 3,4% so với cùng kỳ, cao hơn nhiều so với mục tiêu 2% của Fed.

Mặc dù Fed đã liên tục khẳng định rằng "lạm phát tăng chỉ là tạm thời", tuy nhiên niềm tin đó đã bị đặt dấu hỏi khi Chủ tịch Powell phát biểu trước Ủy ban Dịch vụ Tài chính của Hạ Viện vào hôm qua rằng: "Lạm phát đã tăng đáng kể và có khả năng sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tới trước khi điều chỉnh".

Phát biểu đáng chú ý nhất trong hai ngày làm việc với Quốc hội Mỹ của ông Powell đó là: "Sẽ là một sai lầm nếu Fed hành động sớm để chống lại lạm phát, mà cuối cùng, điều này chỉ là tạm thời". Phát biểu này cũng đồng nghĩa với việc Fed sẽ tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng hiện tại.

Theo các chuyên gia, việc Fed không hành động để hạn chế sự gia tăng của lạm phát sẽ khiến giá vàng tiếp tục được hưởng lợi.

“Chúng tôi vẫn đang chứng kiến lạm phát tăng và nó dường như không phải là nhất thời như mọi người nghĩ”, Michael Matousek, nhà giao dịch hàng đầu tại US Global Investors nhận định và nói thêm rằng, với tình hình lạm phát và lãi suất thực rất thấp, vàng có thể tăng sức hút và tiến tới mức 1.900 USD/oz trong những tháng tới.

Trên cơ sở kỹ thuật, hôm qua, mức kháng cự mới ở 1.826,30 USD/oz, tương đương mức thoái lui 38,2%. Tuy nhiên, giá vàng đã đóng cửa ngay trên mức trung bình động 200 ngày ở 1.828,70 USD/oz.

Sáng nay, mở cửa thị trường châu Á, giá vàng đã được giao dịch khá ổn định trên đường trung bình động 200 ngày và trên 1.830 USD/oz, vì vậy mức kháng cự tiếp theo sẽ xảy ra khi giá chạm đường trung bình động 50 ngày ở 1.838,30 USD/oz, và mức kháng cự chính là 1.861,50 USD/oz dựa trên mức thoái lui 23,6% của đợt tăng trước.

thi truong vang ngay 167 ha nhiet sau khi dat muc dinh mot thang

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,75 - 57,50 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,75 - 57,52 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM niêm yết ở mức 56,80 - 57,50 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 56,85 - 57,75 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và giữ nguyên giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000