Thị trường vàng sáng 1/7: Tiếp đà giảm

09:13 | 01/07/2022

Sáng nay, vàng tiếp đà giảm của phiên hôm qua trong bối cảnh áp lực từ việc tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương vẫn đang đè nặng lên kim loại quý này.

thi truong vang sang 17 tiep da giam Thị trường vàng sáng 30/6: Nhích nhẹ trở lại
thi truong vang sang 17 tiep da giam Thị trường vàng sáng 29/6: Tiếp đà giảm

Tính đến 9h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 3,1 USD (-0,17%) so với mở cửa xuống 1.804,4 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.801,1 - 1.827,5 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 8/2022 giảm 0,9 USD (-0,05%), hiện giao dịch quanh mức 1.806,5 USD/oz.

thi truong vang sang 17 tiep da giam

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,6% trong ngày, ghi nhận mức giảm 6% trong quý và giảm tháng thứ 3 liên tiếp; trong khi giá vàng tương lai giảm 0,5%.

Hôm qua, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ đã được công bố với mức tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước trong tháng Năm, tương đương với tháng Tư.

PCE tháng Năm cũng tăng 0,6% so với tháng trước đó, sau khi tăng 0,2% trong tháng Tư.

Tuy nhiên, chỉ số PCE lõi đã hạ nhiệt xuống mức tăng 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái vào tháng Năm, thấp hơn so với con số tăng 4,9% của tháng Tư.

Sau khi báo cáo được công bố, giá vàng đã bật tăng nhưng sau đó quay đầu giảm trở lại, khiến nó đóng cửa thấp hơn trong ngày, trong tuần, tháng và quý này.

Theo các chuyên gia, chỉ số PCE chắc chắn sẽ là dữ liệu quan trọng mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) xem xét để xác định rằng liệu họ có nên tiếp tục tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng này hay không.

Trong khi đó, các nhà đầu tư đánh lên cảm thấy "yên tâm" phần nào vì nhiều người cho rằng con số đáng lẽ đã có thể còn tồi tệ hơn, khiến Fed thậm chí mạnh tay hơn trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ.

Các nhà đầu tư hàng hóa thô, bao gồm cả kinh doanh kim loại, gần đây đã lo lắng hơn về nhu cầu tiêu dùng và thương mại đối với hàng hóa ít hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế - trái ngược với quan điểm lạm phát cao hơn sẽ hỗ trợ cho giá hàng hóa thô.

Ở một báo cáo mới đây, các chuyên gia cho rằng thị trường chứng khoán, đặc biệt là chỉ số S&P 500 sẽ kết thúc nửa năm còn lại ở mức thấp nhất kể từ những năm 1970. Tâm lý ưa rủi ro của các nhà đầu tư đã giảm xuống vào cuối tuần này, sau khi dữ liệu công bố mới nhất cho thấy niềm tin của người tiêu dùng đi xuống và chỉ số GDP của Mỹ yếu hơn.

Chủ tịch Fed Powell và Chủ tịch ECB Lagarde hôm thứ Tư đã lặp lại cảnh báo rằng các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục tăng lãi suất ngay cả khi nền kinh tế của họ tăng trưởng chậm lại. Gần đây, phần lớn thị trường đã thể hiện sự lo lắng về khả năng suy thoái kinh tế lớn hơn nỗi lo lạm phát.

“Vàng đang bị ảnh hưởng bởi lập trường quyết liệt của các ngân hàng trung ương, đặc biệt là của Fed, khi các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ thể hiện quan điểm mạnh mẽ của họ trong việc kiểm soát lạm phát bất chấp những thiệt hại có thể gây ra cho nền kinh tế”, chuyên gia phân tích cấp cao tại ActivTrades, Ricardo Evangelista nói.

Trên góc độ kỹ thuật, giá vàng tương lai tháng Tám chạm mức thấp nhất trong 6 tuần, cho thấy xu hướng giảm có lợi thế kỹ thuật tổng thể trong ngắn hạn.

Giá vàng đang bắt đầu có xu hướng giảm trên biểu đồ hàng ngày. Mục tiêu tăng giá tiếp theo là tạo ra mức đóng cửa trên mức kháng cự vững chắc ở mức cao nhất trong tháng Sáu là 1.882,50 USD/oz.

Mục tiêu giá giảm trong ngắn hạn tiếp theo là đẩy giá tương lai xuống dưới mức hỗ trợ kỹ thuật vững chắc ở mức thấp nhất trong tháng Năm là 1,792 USD/oz.

Mức kháng cự đầu tiên được ghi nhận ở mức cao nhất hôm qua là 1.826,80 USD/oz và sau đó là mức cao nhất của ngày thứ Tư là 1.834,90 USD/oz. Mức hỗ trợ đầu tiên được ghi nhận ở 1.800 USD/oz và sau đó là 1.792 USD/oz.

Ở thông tin khác, hôm qua, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust tiếp tục giảm 2,32 tấn vàng nắm giữ xuống còn 1.050,31 tấn.

thi truong vang sang 17 tiep da giam

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 68,15 - 68,75 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 68,15 - 68,77 triệu đồng/lượng, giảm 150 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP. HCM được niêm yết tại 68,10 - 68,80 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 68,15 - 68,85 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850