Thị trường vàng sáng 17/8: Tiếp tục giảm nhẹ

08:49 | 17/08/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp tục giảm nhẹ trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi biên bản cuộc họp tháng Bảy của Fed sẽ được công bố vào cuối ngày.

thi truong vang sang 178 tiep tuc giam nhe Thị trường vàng sáng 16/8: Tăng nhẹ sau phiên lao dốc
thi truong vang sang 178 tiep tuc giam nhe Thị trường vàng sáng 15/8: Giảm nhẹ trong sáng đầu tuần

Tính đến 8h30 sáng nay (17/8) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 0,3 USD (-0,02%) so với mở cửa xuống 1.775,3 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.771,2 - 1.783 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12/2022 tăng 0,8 USD (0,04%), hiện giao dịch quanh mức 1.790,4 USD/oz.

thi truong vang sang 178 tiep tuc giam nhe

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm nhẹ 0,2%, sau khi giảm hơn 1% hôm đầu tuần, trong khi giá vàng tương lai giảm 0,5%.

Giá vàng tương lai giao dịch ở mức thấp hơn trong ngày hôm qua nhưng vẫn giữ trên mức trung bình động 50 ngày (SMA50).

Thông thường, SMA50 được các chuyên gia phân tích sử dụng để dự đoán liệu một cổ phiếu hoặc hàng hóa đang trong xu hướng tăng hay giảm trong ngắn hạn. Khi vàng, bạc hoặc chỉ số USD cao hơn mức trung bình động 50 ngày, các chuyên gia thường dự báo đó là xu hướng tăng giá ngắn hạn. Nói một cách đơn giản, trong một xu hướng tăng bền vững, giá vàng nói chung sẽ duy trì trên SMA50.

Tuy nhiên, một số chuyên gia lại cho rằng vàng đang "cạn lực" trong khi bạc xanh vẫn duy trì sức mạnh và dao động gần mức cao nhất trong 3 tuần.

“Vàng đang thiếu sự hỗ trợ trong khi bạc xanh tiếp tục tăng trước khi biên bản cuộc họp tháng Bảy của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được công bố… Thị trường vàng sẽ rất biến động cho đến cuộc họp tháng Chín”, chuyên gia phân tích cấp cao tại OANDA, Edward Moya nói và thêm rằng: “Biên bản cuộc họp có thể sẽ xác nhận niềm tin rằng việc Fed nâng lãi suất quyết liệt vẫn còn đó, điều này có thể hỗ trợ bạc xanh và gây áp lực giảm giá đối với vàng”.

Ngược lại, các chuyên gia của Standard Chartered thì cho rằng: "Khi rủi ro suy thoái tăng, đà giảm của vàng có thể được hạn chế bất chấp các đợt nâng lãi suất quyết liệt".

Trả lời phỏng vấn mới đây của Kitco, các chuyên gia từ Northstar & Badcharts cho rằng mặc dù lạm phát cao và bất ổn địa chính trị dai dẳng, giá vàng ít không đổi trong năm nay. Nhưng nếu trong những điều kiện nhất định, vàng sẽ trải qua một đợt phục hồi đột phá.

Tuy nhiên, để đột phá lên mức cao mới, vàng phải vượt qua các ngưỡng cản quan trọng từ 1.800 USD/oz đến 2.000 USD/oz, và đạt ít nhất 2.400 USD/oz vào năm 2023.

“Vàng đang giao dịch trong phạm vi hẹp. Nó có giá sàn khoảng 1.680 USD/oz và đỉnh ở đâu đó dưới 2.000 USD/oz… Miễn là giá vẫn duy trì trong phạm vi giao dịch đi ngang, chúng tôi không lo ngại gì cả vì đây là con đường vàng phải đi qua để đạt đến những giá trị cao hơn", các chuyên gia nói.

Ở thông tin khác, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hôm qua tiếp tục giảm 1,74 tấn vàng nắm giữ xuống còn 992,2 tấn.

thi truong vang sang 178 tiep tuc giam nhe

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 66,00 - 67,00 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 66,00 - 67,02 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM được niêm yết tại 66,20 - 66,90 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước.

Tại Hà Nội, giá vàng DOJI được niêm yết tại 65,95 - 66,95 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.650 23.960 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.700 23.980 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.680 23.980 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.600 23.900 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.690 23.960 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.650 24.000 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.700 23.950 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.678 23.990 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.570 24.025 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.740 24.000 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.750
65.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.750
65.750
Vàng SJC 5c
64.750
65.770
Vàng nhẫn 9999
51.100
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.600