Thúc đẩy nối lại bảo hiểm nông nghiệp

08:12 | 02/03/2020

Socodevi - một tổ chức của Canada đang tài trợ cho mạng lưới 27 hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp hiện nay, quan tâm, triển khai ngay các chính sách bảo hiểm nông nghiệp các hợp tác xã (HTX) cần chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương để thực hiện.

thuc day noi lai bao hiem nong nghiep Triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp
thuc day noi lai bao hiem nong nghiep Những điều cần biết về bảo hiểm nông nghiệp
thuc day noi lai bao hiem nong nghiep Chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Cao nhất đến 90%

Đa dạng hóa, chia nhỏ sản phẩm

Ông Jean Yves - chuyên gia về quản lý rủi ro của Socodevi cho rằng, dịch bệnh, thời tiết ngày càng diễn biến tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả nuôi trồng, “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp.

Hiện các Dự án phát triển hợp tác xã Việt Nam- VCED (do Canada tài trợ), Dự án Hệ thống thông tin viễn thám và bảo hiểm cây trồng tại các nước có nền kinh tế mới nổi (do Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ tài trợ) đã có những cam kết hỗ trợ cho việc xây dựng chính sách bảo hiểm nông nghiệp tại các khu, vùng kinh tế. Đây là thời điểm thuận lợi để các DN ngành bảo hiểm tại Việt Nam tận dụng cơ hội, phát triển các dòng sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, hướng đến các đơn vị kinh tế tập thể và các chuỗi giá sản xuất khép kín.

thuc day noi lai bao hiem nong nghiep
Chính sách bảo hiểm nông nghiệp sẽ là “vắc-xin” cho các mô hình sản xuất nông nghiệp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh

Theo bà Lê Thị Nguyệt Thu - Phó Giám đốc dự án VCED, ở Canada, 90% các HTX nông nghiệp đều mua bảo hiểm cho các khâu đoạn của sản xuất nông nghiệp. Khi quản lý rủi ro đối với HTX, dự án VCED đưa ra 4 chiều hướng rủi ro là thiên tai, thời tiết, tài chính và thị trường. Do vậy các gói bảo hiểm nông nghiệp cần được chia nhỏ thành các sản phẩm cụ thể như: sản phẩm bình ổn thu nhập (giúp hợp tác xã mua để tránh được mùa mất giá); sản phẩm bảo hiểm mùa màng (để hạn chế thiệt hại của dịch bệnh, thời tiết cực đoan); sản phẩm bảo lãnh vốn vay (để tăng khả năng tiếp cận vốn)… Khi các DN thiết kế càng nhiều gói sản phẩm dành cho bảo hiểm nông nghiệp thì khả năng tiếp cận theo nhu cầu của các HTX sẽ ngày càng cao vì hiện nay, nhiều HTX đã kết nối vào hệ thống chuỗi giá trị của các DN tư nhân và các chuỗi cung ứng lớn. Để bán được sản phẩm, họ buộc phải đảm bảo các chỉ tiêu về tài chính, quản lý rủi ro, chất lượng và giá cả sản phẩm.

Chính sách bắt đầu được nối lại

Ghi nhận của Thời báo Ngân hàng cho thấy, trong hai tuần vừa qua các địa phương như Hà Nội, Đồng Tháp, Trà Vinh và Bạc Liêu là những tỉnh, thành đã bắt đầu cụ thể hóa triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp theo Nghị định 58/2018 và Quyết định 22/2019 của Chính phủ.

Theo kế hoạch, trong năm nay, 20 địa phương trên địa bàn cả nước sẽ triển khai nối lại chương trình hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp đối với các loại nông sản chính như lúa gạo, chăn nuôi trâu bò, nuôi heo thịt và tôm thẻ chân trắng. Hiện nay, mặc dù mới bắt đầu triển khai chương trình nhưng tại Đồng Tháp đã có khoảng 15 HTX tại các huyện Cao Lãnh, Tháp Mười, Lấp Vò được lựa chọn để tham gia bảo hiểm đối với hoạt động sản xuất lúa gạo. Tại phía Bắc, với mô hình hỗ trợ trực tiếp từ CTCP Bò sữa Mộc Châu, hoạt động tham gia bảo hiểm nông nghiệp của người dân và HTX chăn nuôi bò tại Sơn La đã khá mạch lạc với khoảng 1.000 hộ dân tham gia mua bảo hiểm. Tại Đồng Nai, Bình Dương, hàng chục trang trại chăn nuôi heo tái đàn sau dịch tả heo châu Phi năm 2019 cũng đã bắt đầu quan tâm tham gia bảo hiểm nông nghiệp.

Theo đánh giá của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, trong giai đoạn 2014-2018 doanh thu lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp không lớn. Cả nước có khoảng 6 DN tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm lĩnh vực này với doanh số khoảng 210 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong các năm tới với các quy định pháp lý cụ thể hơn từ Nghị định 58/2018 và Quyết định 22/2019 của Chính phủ thì nhiều khả năng doanh số bảo hiểm nông nghiệp sẽ cao hơn. Các DN nếu vận dụng tốt hệ thống bảo hiểm nông nghiệp đã được thí điểm thành công giai đoạn 2011-2013 thì có thể hạn chế được nhiều tồn tại, bất cập để kiểm soát chặt chẽ các hợp đồng bảo hiểm.

Trong khi đó, ở góc độ ngân sách, đại diện Cục Giám sát quản lý bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho rằng, trong lần nối lại chính sách bảo hiểm này, để giảm bớt áp lực cho ngân sách, chính sách bảo hiểm nông nghiệp đã được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ và điều kiện của từng địa phương. Vì thế, khả năng đi vào thực tiễn sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn so với giai đoạn thí điểm. Ngoài ra, độ mở của chính sách bảo hiểm nông nghiệp theo các quy định mới tại Nghị định 58/2018 cũng khá thông thoáng, sẽ là điều kiện tích cực để thu hút nhiều hơn các DN bảo hiểm tham gia chương trình.

Theo Quyết định số 22/2019 của Thủ tướng Chính phủ, trong năm 2020 chính sách bảo hiểm nông nghiệp sẽ được triển khai tại 20 tỉnh thành, bao gồm: Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Các đối tượng được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp là lúa gạo, chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi heo và nuôi tôm. Mức hỗ trợ từ 20-90% phí mua bảo hiểm nông nghiệp, tùy đối tượng và địa bàn.

Bài và ảnh Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.400 23.610 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.430 23.610 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.411 23.601 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.418 23.630 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.418 23.618 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.430 23.600 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.460 23.600 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.050
Vàng SJC 5c
47.200
48.050
Vàng nhẫn 9999
44.800
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.400