Thúc đẩy tài chính vi mô để xóa đói giảm nghèo

08:26 | 19/03/2020

Với các dịch vụ tài chính đa dạng như: cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm… và mạng lưới hoạt động rộng khắp, Agribank đã giúp những người dân, đặc biệt trên địa bàn nông nghiệp nông thôn, ổn định sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống, hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.

Agribank cung cấp nhiều giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt
Agribank - ngân hàng đa năng của nông dân
Đồng hành cùng nông dân thời 4.0

Thúc đẩy tài chính vi mô ở Việt Nam

Trải qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới... Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển. Diện mạo đất nước có nhiều đổi thay, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những thành tựu quan trọng đó có phần đóng góp tích cực từ kết quả đạt được của hoạt động tài chính vi mô mà các TCTD đã và đang triển khai, trong đó có Agribank.

Trong những năm qua, NHNN luôn xác định tài chính vi mô là một mũi nhọn trong hiện thực hoá mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Thực tế đã chứng minh, tài chính vi mô có vai trò quan trọng trong phát triển tài chính toàn diện, là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc và ngày càng lớn mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, Agribank đã giúp nhiều người dân khu vực nông thôn, người có thu nhập thấp… tiếp cận được nguồn vốn, dịch vụ tài chính một cách thuận lợi nhất, chung tay cùng cả nước xoá đói giảm nghèo.

Điểm giao dịch lưu động bằng ôtô chuyên dùng của Agribank đã góp phần gia tăng khả năng tiếp cận tín dụng của bà con nông dân tại các vùng sâu, vùng xa

Với mạng lưới rộng khắp trên cả nước gồm 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch có mặt khắp mọi vùng miền, vùng sâu vùng xa, huyện đảo… và luôn tiên phong, chủ lực cung ứng tín dụng, sản phẩm dịch vụ tiện ích cho nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực “tam nông”, vốn tín dụng của Agribank chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ gần 2 triệu tỷ đồng đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam. Tiên phong, chủ lực triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Thông qua triển khai cho vay xây dựng nông thôn mới đến 100% số xã trên cả nước, Agribank có đóng góp tích cực đối với thành công vượt bậc của quá trình xây dựng nông thôn mới nước ta khi 54% số xã và 110 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm. Linh hoạt trong huy động vốn, ưu tiên chuyển tải vốn từ địa bàn thành thị về nông thôn, Agribank đã mở rộng hoạt động tài chính vi mô trên toàn quốc với trên 14 triệu khách hàng sử dụng sản phẩm huy động vốn, 4 triệu khách hàng sử dụng sản phẩm tín dụng và trên 11 triệu tài khoản thanh toán.

Tận dụng lợi thế, cùng với sự am hiểu địa bàn, Agribank không ngừng đơn giản hóa thủ tục cho vay, cải tiến mô hình, phương thức cho vay, kết hợp với chính quyền địa phương, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai trên 68.000 tổ vay vốn với gần 1,5 triệu thành viên; triển khai an toàn 68 Điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng với gần 8.200 phiên giao dịch, phục vụ hơn 800 nghìn khách hàng tại trên 400 xã trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi đối với hộ gia đình, cá nhân ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận vốn vay và dịch vụ ngân hàng; triển khai chương trình tín dụng tiêu dùng, đến nay doanh số cho vay chương trình đạt trên 7.400 tỷ đồng với 193.000 hộ gia đình, cá nhân được bổ sung vốn phục vụ nhu cầu hợp pháp và cấp thiết, nâng cao đời sống của người dân tại các địa bàn nông thôn…

Ông Bùi Văn Chân ở tại xã Quảng Lợi – Quảng Xương – Thanh Hóa chia sẻ, khi có dịch vụ ngân hàng lưu động của Ngân hàng Nông nghiệp ở Ủy ban xã là chúng tôi yên tâm lắm. Vì dịch vụ rất an toàn, tiện lợi. Trước đây, do quãng đường từ nhà đến chi nhánh ngân hàng xa nên tôi và nhiều người dân thường bị các đối tượng cò mồi săn đón. Thế nhưng bây giờ, tôi tranh thủ ra Ủy ban xã giao dịch rồi lại về làm việc nhà, không mất thời gian và lại an toàn.

Bà Phạm Thị Toan – Tổ trưởng tổ vay vốn Hội Phụ nữ xã Quảng Lợi đánh giá cao những thủ tục ngân hàng nhanh gọn, thuận tiện cho người dân. “Bây giờ đường đi gần, ngân hàng lưu động làm việc cả ngày, mà thủ tục lại rất nhanh gọn, không phải đợi chờ lâu… nên chúng tôi cảm thấy rất hài lòng. Hàng tháng, tôi đôn đốc thu nợ của hội viên rồi thay họ ra ngân hàng trả lãi. Người dân xung quanh đây đa phần là chăn nuôi hoặc đi đánh cá, vì ở đây gần biển, họ chăm chỉ làm ăn và trả lãi đều đặn. Gắn bó với Agribank nhiều năm, cuộc sống của họ đã khá hơn”.

Lấy khách hàng làm trung tâm

Trong chiến lược hoạt động của mình, Agribank luôn xác định lấy khách hàng là trung tâm để từ đó gia tăng khả năng tiếp cận sản phẩm dịch vụ một cách nhanh và hiệu quả nhất. Do vậy, Agribank chính thức triển khai Đề án đẩy mạnh phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường nông nghiệp, nông thôn, với mục tiêu gia tăng sự tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các cá nhân, gia đình cũng như các dịch vụ thanh toán văn minh, hiện đại trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Trong hệ thống TCTD, Agribank luôn dẫn đầu về cho vay hộ sản xuất và cá nhân với tốc độ tăng trưởng lĩnh vực này đạt trung bình 12-13%/năm.

Không chỉ vậy, Agribank còn chú trọng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại về với khu vực nông thôn. Tính đến 31/1/2020, chỉ tiêng Agribank khu vực Tây Nam bộ đã phát hành được 11.631 thẻ vay thấu chi cho bà con nông dân. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và tiện ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn, trong năm 2019, Agribank Vĩnh Long đã đầu tư, trang bị nhiều máy POS, lắp đặt tại các cơ sở, cửa hàng vật tư nông nghiệp, cửa hàng bán lẻ… và đang mở rộng đến các đơn vị cung cấp dịch vụ công như cơ sở y tế, bệnh viện, trường học...

Anh Nguyễn Văn Luận – đơn vị chấp nhận thẻ Cửa hàng Vật tư nông nghiệp Thần Nông (Tổ 4 ấp Thạnh Lý, xã Đông Thạnh, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long) cho biết, nếu như trước đây bà con nông dân muốn mua phân, thuốc bón nông nghiệp phải đi vay mượn khắp nơi, đến cuối mùa vụ thu hoạch mới có tiền để trả. Nhưng từ ngày Agribank Bình Minh cấp cho bà con nông dân thẻ ATM được vay thấu chi khiến bà con vô cùng phấn khởi, vì không phải đau đầu đi vay mượn. Chưa kể đến kỳ thu hoạch, bà con nông dân cũng không cần phải ngồi đếm từng tờ tiền nữa. Thương lái thu mua xong là chuyển tiền vào thẻ ATM ngay. “Thuận tiện hơn cho bà con nông dân chúng tôi nữa là khi Agribank Bình Minh trang bị máy POS để quẹt thẻ tại cửa hàng, bà con họ rất an tâm khi mang thẻ ATM được ngân hàng cấp đến cửa hàng thanh toán”, ông Luận vui mừng cho biết.

Với các dịch vụ tài chính đa dạng như: cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm… và mạng lưới hoạt động rộng khắp, Agribank đã giúp những người dân, đặc biệt trên địa bàn nông nghiệp nông thôn, ổn định sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống, hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Qua đó, một lần nữa cho thấy vai trò không thể thiếu của Agribank trong lĩnh vực cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính hướng về các đối tượng khách hàng có thu nhập thấp với những khoản vay nhỏ, khẳng định vai trò chủ lực của NHTM 100% vốn Nhà nước trong công cuộc đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn, hướng tới một xã hội ổn định, công bằng và thịnh vượng, nơi mọi người đều được thụ hưởng những thành quả do phát triển kinh tế đem lại.

Đến 31/12/2019, Agribank có tổng tài sản đạt trên 1,45 triệu tỷ đồng. Nguồn vốn đạt trên 1,34 triệu tỷ đồng. Tổng dư nợ và đầu tư đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay nền kinh tế đạt trên 1,12 triệu tỷ đồng. Thu dịch vụ đạt gần 6.700 tỷ đồng. Agribank được Công ty Brand Finance xếp hạng 190 trong top 500 Thương hiệu Ngân hàng giá trị lớn nhất toàn cầu (Brand Finance Banking 500) năm 2020; là Quán quân các NHTM được vinh danh vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500; Top 20 trong danh sách xếp hạng 1.000 Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam; giải thưởng Sao Khuê; "Ngân hàng hỗ trợ đầu tư nông nghiệp công nghệ cao tiêu biểu", "Ngân hàng tiêu biểu vì cộng đồng"…

Ngô An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250