Chỉ số kinh tế:
Ngày 22/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.125 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.919/26.331 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
dai-hoi-dang

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Một năm sau ngày thành lập chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn (ngày 10/4/1875), song song với việc phát hành tiền kim loại, Ngân hàng Đông Dương đã cho phát hành tiền giấy. Tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương được ấn định giá trị song bản vị vàng và bạc đáp ứng các chức năng của tiền tệ. Ưu điểm của tiền giấy là có thể in nhiều mệnh giá khác nhau, tiện lợi cho việc lưu thông, cất trữ và thu hồi. Vì vậy, trong thời kỳ 10 năm đầu thế kỷ XX, giá trị tiền giấy chiếm tới 85% tổng giá trị tiền đưa vào lưu thông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do người dân vẫn có thói quen tiêu dùng tiền kim loại truyền thống hình tròn lỗ vuông bằng đồng hoặc kẽm hoặc kim loại quý của triều Nguyễn, nên tiền giấy trong giai đoạn đầu chủ yếu chỉ lưu hành ở một vài thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng và thường được đóng dấu hoặc viết tay địa danh phát hành.
aa
Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng nhôm, tiền bạc ngoại thương Tiền Đông Dương giai đoạn thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai (1945 – 1954): Tiền hợp kim niken - đồng Tiền Đông Dương giai đoạn thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai (1945 – 1954): Tiền bằng nhôm

Trong khoảng thời gian 1875-1955, tiền giấy Đông Dương được phát hành 6 giai đoạn. Mỗi giai đoạn phát hành được chia thành nhiều kỳ. Thậm chí trong một kỳ chia làm nhiều đợt. Mỗi giai đoạn, mỗi kỳ, mỗi đợt phát hành gắn liền với những biến động tiền tệ, kinh tế, chính trị và xã hội của xứ Đông Dương và thế giới. Các tờ tiền được in ở nhiều nơi, phát hành với nhiều mệnh giá, kích thước, màu sắc và chữ ký khác nhau, mang đặc trưng pha trộn của cả nền văn hóa phương Tây và phương Đông, có những đặc trưng riêng về kiểu dáng in, mẫu mã, các loại ngôn ngữ trên tờ tiền và các loại chữ ký của những người có trách nhiệm quản lý và phát hành tiền.

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Phát hành kỳ 1 (1875-1893)

Ngay sau khi thành lập, Ngân hàng Đông Dương cho phát hành tiền giấy lần đầu tiên tại Gia Định - Tây Cống (tức Sài Gòn, đọc theo phiên âm tiếng Quảng Đông), gồm ba loại mệnh giá là 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres theo Nghị định ngày 21/01/1875 (được in trực tiếp trên tờ tiền). Hình thức loại tiền này giống tờ Chi phiếu. Trên tờ tiền có ghi viết tay ngày, tháng, nơi phát hành mỗi khi dùng và đóng dấu hủy bỏ (Annulé) khi thu hồi. Lúc này, thực dân Pháp mới chỉ chiếm được Lục tỉnh Nam Kỳ, người dân còn mong một ngày nào đó triều đình nhà Nguyễn sẽ khôi phục được chủ quyền. Bản thân người dân chỉ quen sử dụng loại tiền truyền thống kim loại do triều đình quân chủ phong kiến đúc và lưu thông vì cho rằng kim loại có giá trị, cho nên tiền giấy phát hành trong thời kỳ này không được sử dụng nhiều mà chỉ được lưu thông trong phạm vi nhỏ ở sáu tỉnh Nam Kỳ và với những sỹ quan người Pháp, Tây Ban Nha theo đoàn quân viễn chinh, những điền chủ, thương nhân thân Pháp. Ngày nay, những tờ tiền này còn được lưu giữ không nhiều.

Tiền giấy 5 piastres: Hình chữ nhật, kích thước 181 x 95 mm, nền màu xanh, chữ nâu đỏ. Mặt trước có dòng chữ “BANQUE DE L‘INDO - CHINE” và hình thần Neptune ngồi tựa vào tượng hình rồng và có mệnh giá ghi bằng tiếng Anh “FIVE DOLLARS” và tiếng Pháp “CINQ PIASTRES”. Mặt sau in hoa văn hình rồng và chữ Hán: 奉本国特諭 Phụng bản quốc đặc dụ (vâng lệnh nhà nước); 東方匯理銀行 Đông phương hối lý ngân hàng; 見字交銀Kiến tự giao ngân (thấy giấy giao bạc); 銀伍元 Ngân ngũ nguyên (bạc năm đồng); 嘉定-西貢 Gia Định – Tây Cống.

Tiền giấy 20 piastres: Hình chữ nhật, kích thước 208 x120 mm, nền màu xanh, chữ màu xanh. Mặt trước in dòng chữ “BANQUE DE L‘INDO - CHINE” và hình cô gái Pháp ngồi tựa vào tượng hình con bò và cô gái Lào ngồi cạnh con hổ, mệnh giá ghi bằng tiếng Anh “TWENTY DOLLARS” và tiếng Pháp “VINGT PIASTRES”. Mặt sau in hoa văn và chữ Hán: 奉本国特諭 Phụng bản quốc đặc dụ (vâng lệnh nhà nước); 東方匯理銀行 Đông phương hối lý ngân hàng; 見字交銀 Kiến tự giao ngân (thấy giấy giao bạc); 銀貳拾元 Ngân nhị thập nguyên (bạc hai mươi đồng); 嘉定 - 西貢 Gia Định – Tây Cống.

Tiền giấy 100 piastres: Hình chữ nhật, kích thước: 215 x 145 mm, nền màu xanh, chữ đen. Mặt trước tờ tiền in dòng chữ “BANQUE DE L‘INDO - CHINE” và hình viên sĩ quan hải quân Bồ Đào Nha (tên là Vasco De Gama - Người có nhiều công đi chiếm thuộc địa) và người đàn ông thuộc địa cởi trần đứng trước cổng. Tờ tiền có mệnh giá được ghi bằng cả tiếng Anh “HUNDRED DOLLARS” và tiếng Pháp “CENT PIASTRES”. Mặt sau có hình hoa văn và chữ Hán: 奉本国特諭 Phụng bản quốc đặc dụ (Vâng lệnh nhà nước); 東方匯理銀行 Đông phương hối lý ngân hàng; 見字交銀 Kiến tự giao ngân (thấy giấy giao bạc); 銀壹百元 Ngân nhất bách nguyên (bạc một trăm đồng); 嘉定-西貢 Gia Định – Tây Cống.

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Chữ ký mẫu của ba tờ tiền giấy:

Un Administrateur à Paris (Giám đốc tại Paris): Edouard Delessert

Le Caissier (nhân viên thu ngân): (chữ ký tùy nơi phát hành)

Le Directeur de la Xuccursale (Giám đốc chi nhánh): (Chữ ký tùy nơi phát hành)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923
Tiền giấy 5 piastres,1886
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923
Tiền giấy 20 piastres, 1886
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923
Tiền giấy 100 piastres,1886

Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biên tập: Mạnh - Thắng | Đồ họa: Văn Lâm

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng gặp phải vô vàn khó khăn, thử thách, trong đó có nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế và tài chính tiền tệ cần được giải quyết kịp thời. Ngân khố Trung ương lúc bấy giờ chỉ còn vẻn vẹn 1.230.720 đồng Đông Dương, trong đó có 586.000 đồng tiền lẻ rách nát chờ tiêu hủy.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Từ năm 1923 đến năm 1939, Ngân hàng Đông Dương cho phát hành bốn kỳ với 8 loại mệnh giá là 1 piastre (có 2 loại), 5 piastres (có 2 loại), 20 piastres (có 2 loại), 100 piastres (1 loại) và 500 piastres (1 loại). Trong các kỳ phát hành này, tên ngân hàng phát hành là: “Banque de L’Indo-chine” (bỏ gạch nối ở giữa thành “L’Indochine”). Mặt sau có ba thứ chữ là Hán, Việt, Miên (Campuchia).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Căn cứ vào hai Nghị định ngày 21/01/1875 và 20/02/1888, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục cho in thêm và phát hành tiền giấy các mệnh giá 1 piastre, 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres theo yêu cầu của Bộ thuộc địa Pháp. Về cơ bản, họa tiết, kích thước và chất liệu giấy của các tờ tiền này không thay đổi so với kỳ 2, riêng tờ 1 piastre có nền màu xanh được đổi thành màu đỏ. Ngoài ra, 3 loại mệnh giá 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres có in trực tiếp địa danh nơi phát hành trên tờ tiền
Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Ngày 30/8/1945, sau Cách mạng Tháng Tám, Bảo Đại thoái vị, làm cố vấn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 8/3/1949, ông ký với Tổng thống Pháp thỏa thuận công nhận Việt Nam, Lào, Campuchia độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp. Từ đó, Pháp ngừng phát hành tiền Đông Dương, năm 1951 cho phép ba nước phát hành riêng, lưu thông chung. Ở Việt Nam, thời Bảo Đại có bộ tiền nhôm 1953 mệnh giá 10, 20, 50 xu, hay còn gọi là “đồng xu Ba cô”. Đồng 50 xu: mặt trước ba thiếu nữ, dòng “QUỐC GIA VIỆT NAM” và năm 1953; mặt sau ghi mệnh giá, và chữ “VIỆT NAM”.
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ “nội thảng”. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống “tiền cổ phương trung” của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.
Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Vua Trần Cảnh lên ngôi tháng 12 năm Ất Dậu (1225), sau khi mất, miếu hiệu là Thái Tông. Vua Trần Thái Tông tại vị 33 năm, đặt 3 niên hiệu: Kiến Trung (1225-1231), Thiên Ứng Chính Bình (1232-1250) và Nguyên Phong (1251-1258).
Tiền triều Đinh (970-980)

Tiền triều Đinh (970-980)

Sự ra đời của đồng tiền Thái Bình hưng bảo là một trong những tiêu chí, góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc...
Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

NHNN Việt Nam vừa ban hành Thông tư 01/2024/TT-NHNN quy định về quản lý seri tiền mới in của NHNN. Thông tư này quy định việc quản lý seri tiền mới in đối với các loại tiền giấy của NHNN được thực hiện từ khi cấp vần seri, sử dụng vần seri trong quá trình in tiền cho đến khi tiền mới in được phát hành vào lưu thông.