Chỉ số kinh tế:
Ngày 15/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.135 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.929/26.341 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
tet-duong-lich

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ “nội thảng”. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.
aa
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ I: Tiền đồng, tiền kẽm Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ II: Tiền đồng lớn Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ IV: Tiền bằng bạc

Thoi bạc

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) đúc thỏi tiền kiểu mới, mỏng hơn so với kiểu cũ, chế cấp các dấu in. Phủ Thừa Thiên do Nội vụ phủ đổi các dấu in, 27 tỉnh, mỗi tỉnh được cấp hai khuôn bằng sắt đúc bạc 10 lạng, một mặt đóng dấu Thiệu Trị niên tạo, dưới đóng năm đúc, viết theo can chi. Hai bên đóng dấu nội thảng và tên tỉnh. Thỏi 1 lạng cũng được đúc theo kiểu đó. Thứ cũ đã có dấu in niên hiệu và tên tỉnh không phải in lại.

Riêng Hà Tĩnh, Quảng Bình và Ninh Bình không được cấp con dấu vì thuế bạc không đáng bao nhiêu.

Theo tinh thần đó, Bộ Hộ ban hành:

- Những thoi bạc do dân tự đúc không có dấu tên tỉnh niên hiệu và chữ công giáp hạn cuối cùng tháng giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) thì không được lưu hành nữa.

- Loại bạc đỉnh do cục Tạo Tác Bắc Thành có chữ công giáp đúc ra trước đây đều được tiếp tục lưu hành.

- Dân muốn đúc lại không kể trong và ngoài tỉnh thì tình nguyện đem đến bẩm lên Thượng Ty xin thợ đến đúc lại cho theo kiểu mới: được quy định và thêm 2 chữ tên quan trông nom đúc. Đúc 1 thảng 10 lạng phải trả 2 tiền công cho thợ đúc.

- Sai các phủ Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An đặt một sở đúc. Quan sở tại chọn thợ và trông nom việc đúc.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo - Nội thảng ngân bách lạng

- Thoi bạc 50 lạng

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo”- 紹治年造, trong khung chỉ nổi. Hai bên có hai hình rồng, đuôi hình đóm lửa ẩn hiện trong mây. Lưng thoi bạc đúc nổi 6 chữ “Nội thảng ngân ngũ thập lượng”-内帑銀五拾両 cũng trong khung đường chỉ nổi, hai bên là hoa văn mây bay. Thoi bạc dài 144 mm, rộng 69 mm, dày 19 mm, nặng 1915 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo. Nội thảng ngân ngũ thập lượng

- Thoi bạc 40 lạng

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo” - 紹治年造 trong khung hình chữ nhật viền chỉ đúc nổi. Hai bên hàng chữ là hai hình rồng lượn trong mây. Lưng thoi bạc đúc nổi 6 chữ “Nội thảng ngân tứ thập lượng”- 内帑銀肆拾両 trong khung chữ nhật viền chỉ nổi. Hai bên là hoa văn mây bay và 5 con dơi. Thoi bạc dài 143 mm, rộng 63 mm, dày 18 mm, nặng 1528 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo. Nội thảng ngân tứ thập lượng

- Thoi bạc 30 lạng

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo” - 紹治年造 trong khung hình chữ nhật viền chỉ nổi. Hai bên hàng chữ là hai hình rồng ẩn hiện trong mây. Lưng thoi bạc đúc nổi 6 chữ “Nội thảng ngân tam thập lượng”-内帑銀叁拾両 trong khung chữ nhật viền chỉ nổi. Hai bên là hoa văn hoa lá và 5 con dơi tượng trưng cho ngũ phúc. Thoi bạc dài 131 mm, rộng 57 mm, dày 15 mm, nặng 1348,83 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo. Nội thảng ngân tam thập lượng

- Thoi bạc 20 lạng

Bạc khối hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo”- 紹治年造 trong khung chỉ nổi. Hai bên có 2 con rồng ẩn hiện trong mây. Lưng thoi bạc đúc nổi 6 chữ “Nội thảng ngân nhị thập lượng”- 内帑銀貳拾両 cũng trong khung chỉ nổi. Hai bên có 5 con dơi tượng trưng cho ngũ phúc. Thoi bạc dài 122 mm, rộng 50 mm, nặng 765,5 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạcThiệu Trị niên tạo - Nội thảng ngân nhị thập lượng

- Thoi bạc 10 lạng

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo”- 紹治年造. Lưng thoi bạc đúc nổi 5 chữ “Nội thảng ngân thập lượng”- 内帑銀拾両. Loại bạc này do trung ương và địa phương đúc, về đại thể thì giống nhau khó phân biệt. Thoi bạc dài 118 mm, rộng 45 mm, nặng 385 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo. Nội thảng ngân thập lượng

- Thoi bạc 10 lạng Thiệu Trị năm Giáp Thìn (1844)

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo” - 紹治年造, bên dưới đúc 2 chữ “Giáp Thìn”- 丁未 (1844). Lưng thoi bạc đúc nổi 2 chữ Hưng Yên ở phía trên, 4 chữ “Quan ngân thập lượng”-官銀拾両 theo hàng dọc. Một cạnh có 3 dấu: Thiệu Trị, Giáp Thìn, Hưng Yên, cạnh kia có 2 chữ “Trung bình”- 中平. Thoi bạc dài 122mm, rộng 48,6mm, dày 65mm, nặng 380gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị. Quan ngân thập lạng Giáp Thìn 1844, Hưng Yên

Ngoài thoi bạc 10 lạng Thiệu Trị năm Giáp Thìn còn có thoi bạc 10 lạng năm Bính Ngọ (1846), Đinh Mùi (1847). Trên thoi bạc có dấu của tỉnh chỉ nơi đúc như Bình Định, Quảng Nam, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo - Quan ngân thập lượng Bính Ngọ (1846), Sơn Tây
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo - Quan ngân thập lượng Đinh Mùi (1847), Hưng Yên

- Thoi bạc 1 lạng

Thoi bạc hình chữ nhật. Mặt thoi bạc đúc nổi 4 chữ “Thiệu Trị niên tạo” 紹治年造. Lưng thoi bạc đúc nổi 5 chữ “Nội thảng ngân nhất lượng”-内帑銀壹両.Thoi bạc dài 59mm, rộng 25mm, dày 3mm, nặng 38 gr.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc
Thoi bạc Thiệu Trị niên tạo. Nội thảng ngân nhất lượng
Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng gặp phải vô vàn khó khăn, thử thách, trong đó có nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế và tài chính tiền tệ cần được giải quyết kịp thời. Ngân khố Trung ương lúc bấy giờ chỉ còn vẻn vẹn 1.230.720 đồng Đông Dương, trong đó có 586.000 đồng tiền lẻ rách nát chờ tiêu hủy.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Từ năm 1923 đến năm 1939, Ngân hàng Đông Dương cho phát hành bốn kỳ với 8 loại mệnh giá là 1 piastre (có 2 loại), 5 piastres (có 2 loại), 20 piastres (có 2 loại), 100 piastres (1 loại) và 500 piastres (1 loại). Trong các kỳ phát hành này, tên ngân hàng phát hành là: “Banque de L’Indo-chine” (bỏ gạch nối ở giữa thành “L’Indochine”). Mặt sau có ba thứ chữ là Hán, Việt, Miên (Campuchia).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Căn cứ vào hai Nghị định ngày 21/01/1875 và 20/02/1888, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục cho in thêm và phát hành tiền giấy các mệnh giá 1 piastre, 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres theo yêu cầu của Bộ thuộc địa Pháp. Về cơ bản, họa tiết, kích thước và chất liệu giấy của các tờ tiền này không thay đổi so với kỳ 2, riêng tờ 1 piastre có nền màu xanh được đổi thành màu đỏ. Ngoài ra, 3 loại mệnh giá 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres có in trực tiếp địa danh nơi phát hành trên tờ tiền
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Một năm sau ngày thành lập chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn (ngày 10/4/1875), song song với việc phát hành tiền kim loại, Ngân hàng Đông Dương đã cho phát hành tiền giấy. Tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương được ấn định giá trị song bản vị vàng và bạc đáp ứng các chức năng của tiền tệ. Ưu điểm của tiền giấy là có thể in nhiều mệnh giá khác nhau, tiện lợi cho việc lưu thông, cất trữ và thu hồi. Vì vậy, trong thời kỳ 10 năm đầu thế kỷ XX, giá trị tiền giấy chiếm tới 85% tổng giá trị tiền đưa vào lưu thông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do người dân vẫn có thói quen tiêu dùng tiền kim loại truyền thống hình tròn lỗ vuông bằng đồng hoặc kẽm hoặc kim loại quý của triều Nguyễn, nên tiền giấy trong giai đoạn đầu chủ yếu chỉ lưu hành ở một vài thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng và thường được đóng dấu hoặc viết tay địa danh phát hành.
Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Ngày 30/8/1945, sau Cách mạng Tháng Tám, Bảo Đại thoái vị, làm cố vấn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 8/3/1949, ông ký với Tổng thống Pháp thỏa thuận công nhận Việt Nam, Lào, Campuchia độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp. Từ đó, Pháp ngừng phát hành tiền Đông Dương, năm 1951 cho phép ba nước phát hành riêng, lưu thông chung. Ở Việt Nam, thời Bảo Đại có bộ tiền nhôm 1953 mệnh giá 10, 20, 50 xu, hay còn gọi là “đồng xu Ba cô”. Đồng 50 xu: mặt trước ba thiếu nữ, dòng “QUỐC GIA VIỆT NAM” và năm 1953; mặt sau ghi mệnh giá, và chữ “VIỆT NAM”.
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống “tiền cổ phương trung” của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.
Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Vua Trần Cảnh lên ngôi tháng 12 năm Ất Dậu (1225), sau khi mất, miếu hiệu là Thái Tông. Vua Trần Thái Tông tại vị 33 năm, đặt 3 niên hiệu: Kiến Trung (1225-1231), Thiên Ứng Chính Bình (1232-1250) và Nguyên Phong (1251-1258).
Tiền triều Đinh (970-980)

Tiền triều Đinh (970-980)

Sự ra đời của đồng tiền Thái Bình hưng bảo là một trong những tiêu chí, góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc...
Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

NHNN Việt Nam vừa ban hành Thông tư 01/2024/TT-NHNN quy định về quản lý seri tiền mới in của NHNN. Thông tư này quy định việc quản lý seri tiền mới in đối với các loại tiền giấy của NHNN được thực hiện từ khi cấp vần seri, sử dụng vần seri trong quá trình in tiền cho đến khi tiền mới in được phát hành vào lưu thông.