Trung Quốc: Lạm phát tăng với tốc độ nhanh nhất trong nửa năm

13:31 | 11/05/2022

Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), trong tháng Tư, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), thước đo chính của lạm phát bán lẻ, đã tăng 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng cao hơn tháng trước.

trung quoc lam phat tang voi toc do nhanh nhat trong nua nam

Số liệu thống kê chính thức cho thấy lạm phát tiêu dùng tại Trung Quốc đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong gần nửa năm, trước đà tăng chi phí kiểm soát dịch COVID-19 và giá hàng hóa cao.

Những tác động kinh tế từ chiến lược “không COVID” của Trung Quốc ngày càng phản ánh rõ hơn trong số liệu kinh tế, khi tình trạng phong tỏa tại các thành phố quan trọng như Thượng Hải ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và đẩy giá vận tải lên cao.

Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), trong tháng Tư, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), thước đo chính của lạm phát bán lẻ, đã tăng 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng cao hơn tháng trước.

Dong Lijuan, chuyên gia của NBS, cho rằng đà tăng của CPI là do các vấn đề như diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 và đà tăng giá hàng hóa quốc tế.

Kể từ tháng Tư, Thượng Hải, thành phố lớn nhất của Trung Quốc, gần như bị phong tỏa hoàn toàn. Hầu hết trong số 25 triệu cư dân của thành phố đã buộc phải ở lại nhà, trong khi hàng hóa chất đống tại các cảng của Thượng Hải.

Theo chuyên gia Dong Lijuan, giá nhiều mặt hàng như khoai tây, trứng và trái cây tươi đều tăng, do chi phí hậu cần cao hơn trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát và nhu cầu dự trữ tăng.

Các số liệu mới nhất cũng cho thấy sau 4 tháng giảm liên tiếp, giá lương thực nói chung đã tăng lần đầu tiên trong tháng Tư.

Trong khi đó, Chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 8%, cao hơn dự kiến, khi giá các mặt hàng như dầu thô và kim loại màu vẫn ở mức cao.

Chuyên gia Julian Evans-Pritchard của công ty nghiên cứu kinh tế Capital Economics, có trụ sở tại London, nhận định tình trạng gián đoạn nguồn cung do ảnh hưởng của dịch COVID-19 sẽ tiếp tục đẩy giá sản xuất lên cao.

Cũng trong tháng Tư, tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất trong gần hai năm, khi sự gia tăng trở lại các ca mắc COVID-19 dẫn đến tình trạng đóng cửa các nhà máy, hạn chế đi lại và tắc nghẽn tại các cảng chính.

Cơ quan Hải quan Trung Quốc cho biết trong tháng Tư tăng trưởng xuất khẩu chỉ ở mức 3,9%.

Theo một cuộc khảo sát của hãng tin Bloomberg, con số này cao hơn kỳ vọng của các nhà phân tích về mức tăng trưởng 2,7%, nhưng là mức thấp nhất kể từ tháng 6/2020.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850