Trung Quốc: Mối lo từ nợ chính quyền địa phương

09:53 | 20/05/2020

Dự báo khoản nợ địa phương của Trung Quốc sẽ là gần 3 nghìn tỷ nhân dân tệ trong 5 tháng đầu năm 2020

Giá nhà ở Trung Quốc tăng trở lại trong tháng Tư, thêm chỉ báo phục hồi
Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tăng lần đầu tiên trong năm nhưng tiêu thụ vẫn còn yếu
Thất nghiệp cản trở phục hồi kinh tế Trung Quốc

Theo báo cáo từ Bộ Tài chính Trung Quốc, nợ chính quyền địa phương tại Trung Quốc trong tháng 4/2020 đã tăng chậm lại so với tháng trước. Theo đó, trong tháng 4, nợ chính quyền địa phương đã tăng thêm 286,7 tỷ nhân dân tệ (tương đương 40,4 tỷ USD), giảm 26% so với 387,5 tỷ nhân dân tệ trong tháng 3. Tuy nhiên, Bộ đưa ra cảnh báo mức nợ này sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới khi Chính phủ phát hành thêm 1 nghìn tỷ nhân dân tệ vào hạn ngạch trái phiếu cho mục đích đặc biệt của chính quyền địa phương nhằm tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng. Theo đó, khoản nợ địa phương sẽ tăng lên mức cao kỷ lục, gần 3 nghìn tỷ nhân dân tệ trong 5 tháng đầu năm, so với mức 1,9 nghìn tỷ nhân dân tệ của một năm trước đó.

Dự báo khoản nợ địa phương của Trung Quốc sẽ là gần 3 nghìn tỷ nhân dân tệ trong 5 tháng đầu năm 2020

Hiện nay, chính quyền Bắc Kinh đang thúc giục các ngân hàng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng để giúp kiềm chế sự sụp đổ kinh tế từ sự bùng phát của dịch Covid – 19 thông qua tài trợ cho các đợt phát hành trái phiếu với mục đích đặc biệt của chính quyền địa phương.

Trái phiếu đặc biệt đã được chính phủ Trung ương Trung Quốc giới thiệu vào năm 2015 để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng và phúc lợi công cộng. Tiền lãi sẽ được trả bằng thu nhập được tạo ra bởi một dự án cụ thể, khác với trái phiếu chung khi trả lãi thông qua doanh thu tài chính. Đây là một biện pháp nhằm giảm thiểu sự phát triển của nợ ngoài ngân sách, một rủi ro tài chính đã khiến Trung Quốc lo lắng suốt một thập kỷ qua.

Mặc dù trong thời gian qua, Trung Quốc đã cố gắng thực hiện các biện pháp để giảm nợ nhưng tình trạng tăng trưởng chậm lại về kinh tế - bị làm trầm trọng thêm bởi đại dịch coronavirus đã một lần nữa đẩy các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc buộc phải tiếp tục theo hướng tăng vay nợ.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều lo ngại về triển vọng tài chính của chính quyền địa phương trong bối cảnh các khoản vay tiếp tục tăng lên trong những tháng tới. Hiện nay, hơn 80% số địa phương phát hành trái phiếu đặc biệt đến từ các tỉnh miền Tây Trung Quốc, là khu vực có hệ thống kinh tế kém phát triển hơn so với các tỉnh ven biển. Theo báo cáo công khai được trích dẫn trong nghiên cứu của Fitch, gần 40 địa phương tham gia vay nợ tại Trung Quốc đã gặp khó khăn trong việc trả các nghĩa vụ nợ trong năm 2019, tăng đáng kể so với con số hơn 10 địa phương trong năm 2018. Trong năm 2020, triển vọng trả nợ của các địa phương càng trở nên khó khăn hơn khi doanh thu tài chính đã suy giảm kể từ đầu năm, giảm 14,3% trong quý đầu tiên so với một năm trước đó xuống còn 4,6 nghìn tỷ nhân dân tệ.

Trong số 28 tỉnh đã công bố dự toán ngân sách năm 2020, các thành phố lớn như Bắc Kinh và Thượng Hải dự kiến thu ngân sách tương đương với mức như năm 2019 và các khu vực có nền kinh tế mạnh như Sơn Đông và Trùng Khánh cũng chỉ dự kiến tăng trưởng khoảng 1%. Tỉnh An Huy, ở miền trung Trung Quốc, dự báo sụt giảm 17,5% trong khi tỉnh Hồ Bắc dự kiến thu nhập sẽ giảm khoảng 13%.

Một cảnh báo khác đến từ hiệu quả của các dự án đầu tư bằng trái phiếu đặc biệt. Cho đến nay, trái phiếu có mục đích đặc biệt đã được sử dụng để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông, cơ sở giáo dục và chăm sóc sức khỏe và các dự án bảo tồn nước của Trung Quốc. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, tình trạng vay mượn thông qua trái phiếu cho mục đích đặc biệt vẫn có rủi ro nếu các chính phủ thực hiện các dự án để hỗ trợ tăng trưởng kém khả thi về kinh tế. Trong khi đó, sau một thập kỷ tăng trưởng rất nhanh trong chi tiêu cơ sở hạ tầng, trong đầu tư tài sản nói chung, đối với nhiều chính quyền địa phương hiện không còn quá nhiều dự án công cộng tạo ra tiền mặt để đầu tư. Do đó, các khoản vay mới có khả năng sẽ đổ vào các dự án đầu tư kém hiệu quả, không đem lại tăng trưởng và khiến khả năng trả nợ của chính quyền địa phương càng trở nên khó khăn hơn.

Mối lo từ nợ chính quyền địa phương càng trở nên rõ ràng hơn khi theo thống kê của Bloomberg, bên cạnh việc gia tăng các khoản vay nợ mới từ trái phiếu cho mục đích đặc biệt, trong năm 2020 dự kiến có thêm khoảng 2 nghìn tỉ nhân dân tệ lượng trái phiếu chính quyền địa phương Trung Quốc đến kỳ đáo hạn. Điều này có nghĩa là việc phát hành trái phiếu mới để cấu trúc các khoản nợ có thể sớm xảy ra và tạo ra những tác động tiêu cực lên thị trường.

Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc đã cam kết đưa ra các biện pháp hiệu quả hơn khi Bộ trưởng Bộ Tài chính Liu Kun thông báo sẽ cắt giảm chi phí không cần thiết trong hoạt động của các chính quyền địa phương nhằm tiết giảm tối đa các khoản chi tiêu chính phủ. Ngoài ra, Bộ Tài chính đã cho phép chính quyền địa phương bán số nợ trị giá hơn 1,8 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương 258 tỷ USD) trước khi ngân sách hàng năm được phê duyệt. Bộ cũng đã công bố cắt giảm thuế mục tiêu để giúp các công ty và hộ gia đình bị virus tấn công, miễn một phần phí bảo hiểm xã hội hoặc nợ thuế.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800