TS. Cấn Văn Lực: Vaccine tốt nhất là triển khai các chính sách nhanh và sớm nhất

14:42 | 16/03/2020

Theo TS.Cấn Văn Lực, Kinh tế gia trưởng Ngân hàng BIDV, quyết định đột ngột hạ tiếp lãi suất 1% của Fed mang thiên hướng hỗ trợ đối phó với nguy cơ khủng hoảng do dịch Covid-19 nhiều hơn là tính chất góp phần kích thích kinh tế vượt qua dịch.

ts can van luc vaccine tot nhat la trien khai cac chinh sach nhanh va som nhat Fed không thấy lãi suất âm là phù hợp với Mỹ, Powell nói
ts can van luc vaccine tot nhat la trien khai cac chinh sach nhanh va som nhat Thị trường vàng ngày 16/3: Khởi sắc sau động thái đưa lãi suất về 0% của Fed
ts can van luc vaccine tot nhat la trien khai cac chinh sach nhanh va som nhat Fed cắt giảm lãi suất về 0%, triển khai chương trình nới lỏng định lượng 700 tỷ USD

Trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát mạnh tại Mỹ, từ cuối tháng 2, Fed đã cắt giảm lãi suất 0,5%, xuống mức 1-1,25% (ngày 3/3/2020) nhưng dường như biện pháp này chưa đủ mạnh để hỗ trợ nền kinh tế khi dịch bùng phát mạnh, người dân gặp nhiều khó khăn trong khám chữa bệnh và phòng chống dịch (nhất là về chi phi y tế), thị trường tài chính Mỹ có dấu hiệu căng thẳng.

Trong bối cảnh đó, đêm ngày 15/3/2020 (giờ Việt Nam), Fed tung ra gói hỗ trợ nền kinh tế và thị trường tài chính Mỹ, gồm 4 biện pháp chính: (i) tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản về mức 0-0,25%; (ii) áp dụng chương trình nới lỏng định lượng (QE) lên tới 700 tỷ USD thông qua việc mua trái phiếu Chính phủ Mỹ và chứng khoán được thế chấp bằng nhà ở; (iii) hạ lãi suất cho vay tái chiết khấu 1,25 điểm % xuống còn 0,25% và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc về 0% (hiệu lực từ 26/3/2020); (iv) khởi động kế hoạch hoán đổi tiền tệ (SWAP) đối với các NHTW Canada, Anh, Nhật Bản, châu Âu và Thụy Sỹ. 

ts can van luc vaccine tot nhat la trien khai cac chinh sach nhanh va som nhat

Ba lý do chính khiến Fed quyết định hạ lãi suất mạnh

Theo TS. Cấn Văn Lực và nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, động thái tung ra gói hỗ trợ nền kinh tế lần này của Fed (gồm cả việc giảm lãi suất khẩn cấp lần thứ 2 liên tiếp trong vòng 2 tuần) được lý giải là do: (i) Fed đánh giá những tác động tiêu cực từ dịch Covid-19 tới kinh tế - xã hội Mỹ và thế giới lớn hơn rất nhiều so với những đánh giá ban đầu như lần giảm lãi suất khẩn ngày 3/3/2020, trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng lan rộng, chưa được kiểm soát, nhất là tại châu Âu và Mỹ; (ii) Thị trường tài chính Mỹ và châu Âu có dấu hiệu căng thẳng từ thứ Năm ngày 12/3/2020 khi nhu cầu đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ tăng đột biến và thị trường chứng khoán giảm mạnh trong tuần từ 9-13/3/2020, trong đó chỉ số Dow Jones và S&P 500 giảm lần lượt là -10,36% và -8,79%; Euro Stoxx 600 giảm -15,45% và FTSE (Anh) giảm -16,97%; và (iii) Fed thể hiện vai trò chủ động trong việc đánh giá tác động thiệt hại của dịch bệnh đối với cộng đồng và nền kinh tế, đồng thời đưa ra động thái mạnh mẽ nhằm hỗ trợ thị trường và nền kinh tế một cách nhanh nhất có thể.

Năm tác động đối với kinh tế - tài chính Mỹ và thế giới

Thứ nhất, việc tung ra gói hỗ trợ nhiều giải pháp của Fed lần này có thể đánh giá là có sự chủ động hơn với thị trường và nền kinh tế qua đó có thể giúp giảm bớt các tác động của dịch Covid-19 tới thị trường tài chính Mỹ trong ngắn hạn. Tuy nhiên, tác động từ quyết định này nhiều khả năng khó bền vững do dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lan mạnh và Chính phủ các nước (đặc biệt là châu Âu) chưa cho thấy khả năng kiểm soát dịch tốt. 

Thứ hai, việc Fed liên tiếp cắt giảm lãi suất cơ bản, về mức thấp kỷ lục 0-0,25% sẽ góp phần làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế, nhất là đối với hoạt động đầu tư, tiêu dùng. Tuy nhiên, đối với người dân và doanh nghiệp Mỹ, việc hạ lãi suất cơ bản cũng như nói lỏng định lượng chưa phải là nhu cầu bức thiết lúc này vì chính sách này có độ trễ, trong khi người dân và doanh nghiệp Mỹ có nhu cầu tiền mặt, thanh khoản tức thời để chi tiêu, cũng như chi trả các khoản cấp bách như tiền chữa bệnh, bảo hiểm y tế, trả lương, thanh toán các hóa đơn và trả nợ đến hạn. Vì vậy, động thái này nhằm hỗ trợ thị trường tài chính nhiều hơn là nền kinh tế. Chính vì vậy, Fed mong đợi Chính phủ và Quốc hội Mỹ có động thái mạnh mẽ hơn trong việc cung cấp các gói tài khóa hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Thứ ba, việc Fed tung ra gói hỗ trợ và giảm lãi suất khẩn cấp lần thứ hai cho thấy triển vọng kinh tế Mỹ rất khó khăn, rất nhiều rủi ro ở phía trước, trong bối cảnh Mỹ bắt đầu chịu tác động rõ nét hơn bởi dịch Covid-19 (bên trong và ngoài Mỹ). Chính vì vậy, ngay sau khi Fed công bố gói hỗ trợ ngày 15/3, các chỉ số tương lai đều giảm, trong đó Dow Jones Futures giảm -4,6%, S&P Futures giảm -4,78%…

Thứ tư, động thái này của Fed sẽ kéo theo làn sóng NHTW các nước trên thế giới tiếp tục hạ lãi suất, mặc dù dư địa hạ lãi suất không còn nhiều, do mức lãi suất cơ bản hiện nay của các nước đã rất thấp (ví dụ lãi suất cơ bản của Anh chỉ là 0,25%, của Úc là 0,5%, của Canada là 1,25%...), thậm chí lãi suất cơ bản của một số nước đã ở mức âm (như của Nhật Bản là -0,1%, của NHTW châu Âu - ECB là -0,5%…).

Thứ năm, việc Fed hạ lãi suất cơ bản và lãi suất tái chiết khấu, nới lỏng định lượng (700 tỷ USD) sẽ góp phần làm tăng thanh khoản cho thị trường. Các nhà đầu tư sẽ tiếp tục tìm đến các công cụ an toàn như trái phiếu chính phủ (TPCP) Mỹ và vàng, khiến giá TPCP Mỹ tiếp tục tăng (đồng nghĩa là lợi suất TPCP Mỹ có thể tiếp tục giảm, mặc dù đã ở mức thấp nhất trừ trước đến nay. Ngoài ra, do việc “dư thừa” thanh khoản, có thể khiến dòng vốn đầu tư gián tiếp dịch chuyển vào những nước “an toàn” hơn, ít chịu tác động bởi dịch bệnh hơn.

Ba tác động và hàm ý đối với Việt Nam

Thứ nhất, việc Fed và NHTW các nước liên tiếp hạ lãi suất cơ bản trong thời gian qua sẽ tạo áp lực rất lớn trong việc giảm lãi suất điều hành đối với cơ quan quản lý của Việt Nam. Tuy nhiên, như tại báo cáo của Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá việc Fed hạ lãi suất ngày 3/3 (phát hành ngày 4/3), báo cáo này tiếp tục cho rằng, việc NHNN dùng công cụ hạ lãi suất trong thời gian tới sẽ không hỗ trợ nhiều, do trong bối cảnh chịu cú sốc ngắn hạn như hiện nay, cái mà người dân và doanh nghiệp đang cần chính là dòng tiền, thanh khoản hỗ trợ tức thì, trong khi việc giảm lãi suất có độ trễ.

“Vì vậy, các cơ quan quản lý của Việt Nam nên khẩn trương thực hiện các nhóm giải pháp tại Chỉ thị 11 ngày 4/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung nhóm giải pháp giãn, hoãn các nghĩa vụ trả nợ của người dân, doanh nghiệp (như miễn giảm phí/thuế, giãn-hoãn nợ vay và tiền thuế, không chuyển nhóm nợ, cho vay mới với lãi suất thấp hơn, tăng chi tiêu đầu tư công…), báo cáo mới nhất của Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV khuyến nghị.

Áp lực này có thể khiến cơ quan quản lý xem xét giảm nhẹ lãi suất điều hành, nhưng cần lưu ý là tác động sẽ không nhiều (như nêu trên) và dư địa giảm lãi suất của Việt Nam hiện nay khá eo hẹp do áp lực lạm phát vẫn rất lớn. Chỉ số CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2020 đã tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong 7 năm (cách xa mục tiêu 4%) trong khi lạm phát cơ bản tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2019 (cách khá xa mức điều hành thông thường khoảng 2-2,5%). Ngoài ra, việc giảm lãi suất hiện nay cũng sẽ không hỗ trợ nhiều đối với việc cho vay mới khi mà khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu (tín dụng toàn hệ thống ngân hàng trong 2 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 0,1% (cùng kỳ tăng 0,85%, theo NHNN).

Thứ hai, động thái của Fed lúc này tác động không đáng kể đến tỷ giá USD/VND. Động thái của Fed lần này cho thấy nền kinh tế Mỹ bước vào giai đoạn khó khăn cùng với lãi suất USD giảm sẽ làm giảm độ hấp dẫn của đồng USD, khiến đồng USD giảm giá. Do đó, áp lực đối với tỷ giá USD/VND dự báo sẽ giảm hơn so với trước, nhưng yếu tố tâm lý có thể làm tăng áp lực tỷ giá. “Tựu chung lại, chúng tôi cho rằng động thái này của Fed sẽ có tác động không đáng kể đến tỷ giá USD/VND”, báo cáo nhận định.

Thứ ba, động thái này của Fed sẽ có tác động hai chiều đối với thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Một mặt, như trên đã phân tích, với thanh khoản dồi dào hơn, dòng tiền đầu tư tìm đến những thị trường an toàn hơn, ít chịu tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19. Vì vậy, việc Việt Nam kiểm soát tốt dịch bệnh, cùng với các động thái chính sách quyết liệt hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh sẽ là một lực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Mặt khác, nhà đầu tư cũng chịu tác động tâm lý khá lớn, có thể khiến thị trường chứng khoán thế giới và Việt Nam sụt giảm. Vì vậy, việc hoàn thành tốt “mục tiêu kép” như các nghị quyết, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cùng với hành động kịp thời trấn an tâm lý nhà đầu tư và quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh sẽ là động lực tích cực quan trọng cho TTCK năm nay.

Như đã nêu quan điểm tại bài viết “Chính sách kinh tế, tiền tệ nào cần ưu tiên trong bối cảnh dịch Covid-19?” công bố ngày 28/2/2020 và bài viết “Fed hạ lãi suất, liệu đã đúng bệnh?” công bố ngày 4/3/2020, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV tiếp tục nhấn mạnh: Nhiệm vụ ưu tiên số 1, quan trọng hàng đầu hiện nay tiếp tục là phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả, bởi vì làm tốt điều này cũng chính là góp phần quan trọng ổn định kinh tế - xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

“Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi vẫn cho rằng, chính sách tài khóa nên được ưu tiên hơn là chính sách tiền tệ, do hiệu quả tức thì, ít độ trễ hơn của chính sách tài khóa. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cần tiếp tục theo dõi, cân nhắc có thể giảm lãi suất điều hành ở một mức độ nhất định nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi nhanh hơn sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Đồng thời, phải kết hợp hài hòa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thì hiệu quả hỗ trợ mới tốt hơn”, nhóm tác giả đề xuất. 

Cuối cùng, cần thực hiện quyết liệt, hiệu quả Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 4/3/2020 về các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 và Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 11/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới. Làm sao chính sách đi vào cuộc sống sớm nhất, nhanh và đúng đối tượng, sẽ là liều vaccine tốt nhất trong bối cảnh hiện nay.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400