Từ tăng vốn sang tăng năng suất: Đường tới tăng trưởng hai con số
![]() |
| Ảnh minh họa |
Dư địa tăng trưởng bằng mở rộng đầu vào đang hẹp lại
Mục tiêu tăng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu cao hơn hẳn về chất lượng tăng trưởng. Nếu giai đoạn 2021- 2025 chủ yếu tạo nền tảng phục hồi và mở rộng quy mô, thì giai đoạn tới phải tạo được bước chuyển rõ rệt về năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Những kết quả của giai đoạn vừa qua cho thấy quá trình chuyển đổi đã bắt đầu, nhưng chưa đủ sâu. Giai đoạn 2021- 2025, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%. Tuy nhiên, nhiều điểm nghẽn mang tính cơ cấu vẫn hiện hữu, từ mức độ phụ thuộc lớn của sản xuất, xuất khẩu vào khu vực FDI, năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đến công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ và chất lượng nhân lực công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu.
Bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), chỉ ra một vấn đề đáng chú ý: quy mô đầu tư đã lớn nhưng hiệu quả sử dụng vốn vẫn còn là điểm nghẽn. Hệ số ICOR còn cao (ở mức 6,43, dù đã thấp hơn mức 6,77 của giai đoạn trước); vốn đầu tư còn dàn trải, hiệu quả phân bổ và lan tỏa của đầu tư tư nhân chưa cao. Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp mới ở mức 29,2%. Bởi vậy, giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi một cấp độ cơ cấu lại sâu hơn.
Nói cách khác, trọng tâm không thể chỉ là ‘có thêm bao nhiêu vốn’, mà phải chuyển sang câu hỏi ‘mỗi đồng vốn tạo ra bao nhiêu giá trị’; với lao động, điều quan trọng là tỷ lệ lao động có kỹ năng cao; với khu vực doanh nghiệp, thước đo cần chuyển từ số lượng sang khả năng làm chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị… Đây cũng là lý do năng suất lao động phải trở thành một biến số trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Với tốc độ tăng năng suất lao động năm 2025 ở mức 6,83%, để đạt tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên, Việt Nam cần đồng thời mở rộng nguồn vốn, nâng chất lượng lao động và đặc biệt là gia tăng đóng góp của TFP.
![]() |
| Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2030 và 2045 (Nguồn: Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV) |
Cần nhiều vốn hơn, phân bổ hiệu quả hơn
Đổi mới mô hình tăng trưởng không đồng nghĩa với giảm vai trò của vốn. Việt Nam vẫn cần lượng vốn đầu tư rất lớn, nhưng cách tạo ra tăng trưởng phải dịch chuyển từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào năng suất các nhân tố tổng hợp. Một điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận là Việt Nam không nhất thiết đi tuần tự từ đầu tư, đến hấp thụ công nghệ rồi mới đổi mới sáng tạo. Thay vào đó, các quá trình này cần được thực hiện đồng thời. Đây là cách “đi tắt đón đầu” nhằm rút ngắn quá trình chuyển đổi trong bối cảnh mục tiêu của giai đoạn 2026-2030 rất cao và thời gian không dài.
Trong các kịch bản tăng trưởng được TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia và nhóm nghiên cứu xây dựng, để đạt kịch bản tích cực với tăng trưởng trên 10%, hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư phải được nâng lên rất mạnh. Đây chính là điểm cốt lõi của câu chuyện “từ tăng vốn sang tăng năng suất”: không phải nền kinh tế cần ít vốn hơn, mà mỗi đồng vốn phải tạo ra nhiều sản lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh hơn.
Cụ thể theo tính toán, vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 tương đương khoảng 33,3% GDP, trong khi giai đoạn 2026-2030 có thể cần khoảng 40% GDP. Cùng với đó, tốc độ tăng năng suất lao động cũng phải được nâng từ mức thực tế 5,2% của giai đoạn trước lên khoảng 8,5%/năm; đóng góp của TFP từ 47% lên trên 55%... Vì vậy, TS. Cấn Văn Lực đề xuất đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng và thực thi các giải pháp cụ thể về huy động, sử dụng và phân bổ nguồn lực theo hướng khả thi, hiệu quả; đồng thời chú trọng chất lượng tăng trưởng với mục tiêu đưa hệ số ICOR về khoảng 4 và nâng đóng góp của TFP lên trên 55%. Song song với đó là yêu cầu kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và các rủi ro trên thị trường năng lượng, tài chính, bất động sản.
Để TFP thực sự trở thành động lực lớn hơn, các chuyên gia cho rằng cần tác động đồng thời vào năm nhân tố: khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo ra, hấp thụ và ứng dụng công nghệ; giáo dục - đào tạo để nâng chất lượng nguồn nhân lực; nâng hiệu quả thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực tốt hơn; phát triển cơ sở hạ tầng; và hoàn thiện thể chế, trong đó có chất lượng thực thi.
Đo tăng trưởng bằng kết quả thay vì nguồn lực đã đầu tư
Tăng trưởng hai con số không thể hiểu đơn giản là tăng mạnh đầu tư công, tín dụng hay tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Cốt lõi phải là nâng TFP, nâng hiệu quả của dòng vốn, cải thiện khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp và làm cho nguồn lực dịch chuyển nhanh hơn tới những ngành, dự án và doanh nghiệp có năng suất cao.
Nếu “tăng năng suất” là đích đến, cách thiết kế và đánh giá chính sách cũng cần thay đổi. Nhìn từ góc độ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực thực chất của mô hình tăng trưởng mới giai đoạn tới, TS. Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), đề xuất đổi mới cách tiếp cận, chuyển từ “phát triển ngành khoa học và công nghệ” sang “giải quyết bài toán phát triển quốc gia”. Theo ông, kết quả cần được đo bằng năng suất lao động, TFP, giá trị gia tăng tạo ra trong nước, doanh thu từ sản phẩm và dịch vụ mới, tỷ lệ nội địa hóa và số doanh nghiệp thực sự đổi mới. Cùng với đó, quản trị thực thi phải chuyển từ “ban hành chính sách” sang “kiến tạo năng lực phát triển”; từ “quản lý đầu vào” sang “quản trị kết quả”; từ hỗ trợ nghiên cứu riêng lẻ sang tổ chức các sứ mệnh công nghệ - công nghiệp; đồng thời chuyển từ trách nhiệm tập thể sang xác lập rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Theo các chuyên gia, phân bổ nguồn lực cần chuyển từ cơ chế “xin - cho” sang dựa trên hiệu quả, năng suất và khả năng tạo giá trị gia tăng. Đồng thời, cần hình thành chương trình quốc gia về nâng cao năng suất lao động và TFP, có bộ chỉ tiêu thống nhất, cơ sở dữ liệu năng suất và cơ chế đánh giá tác động. Việc Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tự động hóa, số hóa và quản trị hiện đại phải được gắn với kết quả đầu ra.
Doanh nghiệp tư nhân cũng cần được đặt vào trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chính sách giai đoạn tới cần dịch chuyển từ hỗ trợ số lượng sang nâng cấp chất lượng doanh nghiệp, khuyến khích R&D, chuyển giao công nghệ, mở rộng khả năng tiếp cận vốn dài hạn, phát triển thương hiệu và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một thay đổi khác không kém phần quan trọng là điều hành tăng trưởng cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu và kết quả. Mục tiêu tăng trưởng hai con số cần được theo dõi bằng một hệ thước đo rộng hơn GDP hay GRDP, ví dụ như bao gồm năng suất lao động, TFP, đầu tư R&D, mức độ đổi mới công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả đầu tư công, năng lực doanh nghiệp và mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu… Gắn với đó là chuyển từ cơ chế điều hành chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính sang hệ thống giám sát kinh tế theo thời gian thực, có khả năng cảnh báo sớm và điều chỉnh chính sách; quản trị theo mục tiêu, dựa trên dữ liệu và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển.
Điều đó cho thấy đường tới tăng trưởng hai con số không nằm ở một phép cộng cơ học của vốn, lao động và tài nguyên. Việt Nam vẫn phải huy động thêm nguồn lực, nhưng quan trọng hơn là hình thành cơ chế để nguồn lực được sử dụng tốt hơn, đi tới đúng nơi có khả năng tạo năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Tăng trưởng hai con số cũng không thể đạt được bằng một chính sách đơn lẻ, mà cần sự cộng hưởng giữa thể chế hiệu quả, vốn dài hạn, hạ tầng hiện đại, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực khoa học, công nghệ. Theo đó, chính sách cần được thiết kế theo hệ sinh thái thay vì từng ngành riêng lẻ. Mục tiêu hai con số vì vậy không dừng ở yêu cầu về tốc độ, mà cần trở thành động lực thúc đẩy một cuộc chuyển đổi sâu hơn về chất của mô hình phát triển.
Tin liên quan
Tin khác
Hành lang pháp lý phải theo kịp sự bùng nổ của tài chính số
Biến “gánh nặng” chất thải thành tài nguyên
TP. Hồ Chí Minh: Làn sóng đầu tư đổ vào trung tâm dữ liệu
Kết nối nguồn lực xanh cho phát triển bền vững
Từ hạ tầng kinh tế số đến hành lang thanh toán mới của châu Á
Liên kết, mở cực tăng trưởng mới cho miền Trung
Khai thác hiệu quả nguồn lực năng lượng từ biển
AI và dữ liệu tái định hình ngành bảo hiểm
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy năng lực tính toán lượng tử tầm vóc quốc tế




