Khai thác hiệu quả nguồn lực năng lượng từ biển
| Ngành năng lượng - dầu khí: Khi cải cách thể chế mở ra cơ hội tạo lợi nhuận Đề xuất sửa Luật Dầu khí Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi): Thay đổi tư duy quản lý, mở lối không gian năng lượng tỷ đô |
![]() |
| Nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng mạnh. Ảnh: VGP |
Ông Marc Knapper, thành viên Tổ tư vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng mạnh, nhất là khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế thu nhập cao, công nghệ cao và xanh trong 2-3 thập kỷ tới. Nhu cầu lớn về năng lượng và hạ tầng cũng đồng thời mở ra dư địa đáng kể để thu hút dòng vốn quốc tế. Khi nhu cầu phát triển các nguồn cung mới ngày càng lớn, Việt Nam có thêm cơ hội thu hút nguồn lực quốc tế tham gia vào quá trình xây dựng hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu năng lượng.
Một hướng đi quan trọng, theo ông Marc Knapper, là tận dụng hạ tầng, năng lực kỹ thuật và nguồn nhân lực hiện có của ngành dầu khí để phát triển các lĩnh vực mới như thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Qua đó, những năng lực được tích lũy trong nhiều thập kỷ của ngành dầu khí có thể tiếp tục tạo giá trị trong quá trình chuyển dịch năng lượng, thay vì chỉ phục vụ hoạt động khai thác dầu, khí truyền thống. Đây cũng là cơ hội để từng bước hình thành một hệ sinh thái năng lượng ngoài khơi rộng hơn, kết nối dầu khí với các nguồn năng lượng mới.
Để hiện thực hóa dư địa này, thể chế cần tạo được bước mở đường cho đầu tư. Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đang cho thấy hướng mở rộng sang CCS, năng lượng ngoài khơi và các dịch vụ kỹ thuật cao, đồng thời cải thiện cơ chế đối với mỏ cận biên, mỏ cuối đời. Tuy nhiên, một khuôn khổ pháp lý tốt chỉ thực sự phát huy giá trị khi được thực thi hiệu quả. Ông Marc Knapper nhấn mạnh, nếu các quy định không được áp dụng minh bạch, nhất quán và nhà đầu tư không có niềm tin vào sự bình đẳng trong một chiến lược dài hạn thì những quy định tốt cũng khó đạt được mục tiêu đề ra. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng với lĩnh vực năng lượng, nơi các dự án thường có quy mô vốn lớn và thời gian triển khai kéo dài.
Bà Vũ Yến Hằng, Chủ tịch Minh Triết Capital JSC đánh giá, Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã có những bước tiến đáng kể khi đơn giản hóa thủ tục, tăng phân cấp, phân quyền, làm rõ cơ chế hợp đồng và mở rộng khuôn khổ pháp lý sang CCS, năng lượng ngoài khơi, dịch vụ kỹ thuật cao, cũng như có cơ chế phù hợp hơn với mỏ cận biên, mỏ cuối đời. Tuy nhiên, ưu đãi mới chỉ là điều kiện cần. Với những khoản đầu tư có vòng đời 10-15 năm, các tổ chức tài chính cần nhìn thấy dòng tiền tương lai, sự ổn định của hành lang pháp lý và cơ chế bảo vệ trước thay đổi chính sách. Bởi vậy, ba yếu tố có sức nặng trong quyết định rót vốn là tính minh bạch trong thực thi, khả năng dự báo chính sách và tốc độ ra quyết định.
Một vấn đề khác là sự đồng bộ của hệ thống pháp luật. Hoạt động năng lượng có thể cùng lúc chịu sự điều chỉnh của Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Xây dựng và các quy định về đầu tư, đất đai, môi trường, quy hoạch, giá điện. Một đạo luật dù được thiết kế thông thoáng nhưng các quy định liên quan còn chồng chéo, thiếu tương thích thì quá trình triển khai vẫn có thể bị ách tắc. Do đó, yêu cầu quan trọng là tạo hành lang pháp lý xuyên suốt từ cấp phép, huy động tài chính, xây dựng, vận hành, tạo doanh thu đến thoái vốn.
Bài toán này càng cấp thiết khi nhu cầu nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng đang mở rộng sang LNG, năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi và công nghệ thu hồi, lưu trữ carbon. Bà Vũ Yến Hằng cho biết, trong thập kỷ tới, Việt Nam có thể cần khoảng 1,5 nghìn tỷ USD đầu tư cho tất cả các ngành, trong đó năng lượng và hạ tầng chiếm nhu cầu rất lớn.
Quy mô nhu cầu đó cũng đặt ra yêu cầu mở rộng các kênh huy động vốn. Ông Marc Knapper cho rằng, mặc dù các ngân hàng trong nước đã có những đóng góp quan trọng, song nguồn lực này khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu phát triển trong 2-3 thập kỷ tới. Vì vậy, vốn từ các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư chiến lược, quỹ hạ tầng, ngân hàng quốc tế và quỹ hưu trí có thể đóng vai trò ngày càng lớn.
Trong đó, VIFC-HCMC có thể góp phần kết nối các nguồn vốn quốc tế với những dự án năng lượng đang triển khai hoặc trong quá trình chuẩn bị. Không chỉ là nơi kết nối vốn, theo ông Marc Knapper, VIFC còn có thể tạo không gian phát triển các sản phẩm tài chính xanh, công cụ quản lý và chia sẻ rủi ro cũng như những phương thức tài trợ dự án mới.
Thay vì chỉ tìm kiếm vốn cho từng dự án riêng lẻ, Việt Nam cần hướng tới hình thành một hệ sinh thái đầu tư năng lượng với danh mục các dự án đủ khả năng huy động vốn và triển khai trên thực tế. Khi tiềm năng tài nguyên, hành lang thể chế và thị trường vốn được kết nối thông suốt, không gian năng lượng từ biển mới có thể chuyển hóa thành nguồn lực thực sự cho tăng trưởng, bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy quá trình chuyển dịch xanh.
Tin liên quan
Tin khác
Liên kết, mở cực tăng trưởng mới cho miền Trung
AI và dữ liệu tái định hình ngành bảo hiểm
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy năng lực tính toán lượng tử tầm vóc quốc tế
Hạ tầng liên vùng mở thêm không gian cho tăng trưởng
Mở “kho dữ liệu” khoa học quốc gia, kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp
Không để giá đất thành “ẩn số” đầu tư
Thị trường nội địa giữ đà tăng tốc, nhưng còn một số lưu ý
Không đáp ứng tiêu chuẩn xanh, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ khó bán hàng
Tạo lực đẩy cho doanh nghiệp trên hành trình Net Zero



