Biến “gánh nặng” chất thải thành tài nguyên
| Chất thải sinh hoạt gia tăng gây áp lực lớn lên hạ tầng môi trường đô thị Tái chế chất thải xây dựng: Mở nguồn tài nguyên thứ cấp cho kinh tế tuần hoàn Hà Nội chạy đua xử lý “núi rác” đô thị |
Khoảng trống hạ tầng sau phân loại
Theo ông Đỗ Tiến Đoàn, Phó trưởng phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), năm 2025, cả nước phát sinh khoảng 72.341 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, trong đó khu vực đô thị chiếm khoảng 54%, còn khu vực nông thôn chiếm 46%.
Tại các đô thị, rác sinh hoạt cơ bản được các công ty môi trường, công trình đô thị tổ chức thu gom và vận chuyển. Tuy nhiên, ở nhiều khu vực nông thôn, hoạt động này vẫn chủ yếu dựa vào các lực lượng thu gom nhỏ lẻ, trong khi hệ thống điểm tập kết, trạm trung chuyển chưa được đầu tư đầy đủ. Phương tiện vận chuyển cũng còn hạn chế, một số nơi vẫn sử dụng xe ba gác, xe kéo tay và thiếu phương tiện chuyên dụng để thu gom riêng rác sau phân loại.
Điểm nghẽn không chỉ nằm ở khâu thu gom mà còn kéo dài đến công đoạn cuối của chuỗi. Đến cuối năm 2025, gần 60% chất thải rắn sinh hoạt vẫn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, còn đốt rác phát điện mới chiếm khoảng 15%. Để từng bước giảm phụ thuộc vào chôn lấp, nhiều địa phương đang đẩy mạnh đầu tư các công nghệ xử lý mới. Hiện có khoảng 37-38 dự án trong quá trình đầu tư, phê duyệt đánh giá tác động môi trường và xây dựng. Nếu được đưa vào vận hành, các dự án này dự kiến có thể nâng tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng đốt rác phát điện lên khoảng 50%.
Theo ông Đỗ Tiến Đoàn, công nghệ này vẫn đặt ra yêu cầu kiểm soát tro xỉ, tro bay, song so với chôn lấp, đặc biệt là chôn lấp không hợp vệ sinh, đây là bước tiến đáng kể trong đổi mới phương thức xử lý.
Những hạn chế của hệ thống phía sau cũng khiến phân loại tại nguồn chưa thể triển khai rộng khắp. Phần lớn địa phương mới dừng ở quy mô thí điểm, nhiều nơi trước mắt chỉ tách thành hai nhóm gồm chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế và chất thải còn lại. Nếu người dân đã tách rác nhưng phương tiện vận chuyển, điểm trung chuyển và cơ sở tiếp nhận chưa được tổ chức tương ứng, hiệu quả của khâu phân loại sẽ khó được bảo đảm. “Ý thức của người dân vẫn là một thách thức khi thói quen phân loại rác đúng quy định chưa được hình thành đầy đủ. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom, vận chuyển còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp yêu cầu trên địa bàn sau sáp nhập. Công nghệ xử lý vẫn phụ thuộc lớn vào chôn lấp, trong khi việc áp dụng công nghệ mới đòi hỏi chi phí đầu tư cao và năng lực vận hành lớn”, ông Đoàn nhìn nhận.
![]() |
| Biến chất thải thành tài nguyên đang là hướng đi quan trọng để phát triển kinh tế tuần hoàn |
Tìm giá trị kinh tế cho từng dòng chất thải
Nếu hạ tầng là điều kiện cần thì đầu ra của rác sau phân loại lại quyết định tính bền vững của toàn bộ hệ thống. Theo ông Hồ Kiên Trung, Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), muốn phân loại rác hiệu quả cần thay đổi cách nhìn, từ coi chất thải là thứ cần xử lý sang xem đây là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế.
Điểm cốt lõi vì vậy không chỉ là chia rác thành bao nhiêu nhóm hay tổ chức thu gom như thế nào, mà trước hết phải xác định chất thải sau khi tách riêng sẽ được sử dụng vào đâu. “Khi xác định được chất thải sau phân loại sẽ được sử dụng vào đâu, tạo ra giá trị gì, chúng ta mới tính ngược lại được cách phân loại, thu gom và vận chuyển phù hợp”, ông Trung nhấn mạnh.
Thực tế, nếu chưa xác định được đầu ra, rác dù được tách riêng từ đầu vẫn có nguy cơ bị trộn lại ở các công đoạn tiếp theo. Trong khi đó, nhiều dòng chất thải như thực phẩm, phụ phẩm nông nghiệp hay vật liệu có khả năng tái chế hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu cho chu trình sản xuất mới nếu được tổ chức phù hợp.
Ở góc độ chính sách, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi cho rằng, yêu cầu quan trọng là chuyển từ tư duy “xử lý rác” sang “quản lý tài nguyên từ chất thải”, gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn. Muốn vậy, toàn bộ chuỗi từ phân loại, thu gom, vận chuyển đến tái chế và xử lý phải được kết nối đồng bộ. “Dòng rác và dòng tiền phải đồng bộ. Khi chất thải có giá trị kinh tế, có thị trường tái chế và cơ chế tài chính phù hợp, người dân, lực lượng thu gom và doanh nghiệp mới có động lực tham gia lâu dài”, ông Thi nhấn mạnh.
Để tạo nền tảng cho quá trình này, các công cụ kinh tế cần được phát huy hiệu quả hơn. Cơ chế tính giá dịch vụ theo khối lượng hoặc thể tích rác phát sinh vừa tạo nguồn lực cho hoạt động thu gom, xử lý, vừa khuyến khích người dân giảm lượng thải và chủ động phân loại.
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) cũng được xem là mắt xích quan trọng, góp phần thúc đẩy thu hồi, tái chế bao bì và hình thành thị trường cho nguyên liệu thứ cấp. Ông Thi cho rằng, doanh nghiệp cần được hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế theo hướng đơn giản, minh bạch, hiệu quả.
Cùng với cơ chế kinh tế, phương thức quản lý cũng cần thay đổi. Cục Môi trường đang định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu điện tử để theo dõi dòng chất thải từ phát sinh đến xử lý, qua đó tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý. Các địa phương cũng cần được chủ động lựa chọn lộ trình, công nghệ và phương án tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời tính đến hiệu quả kinh tế và khả năng liên kết vùng khi quy hoạch cơ sở xử lý.
Về hành lang pháp lý, ông Tạ Đình Thi cho biết dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Chính phủ hoàn thiện, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10-11/2026. Các hướng dẫn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật về chất thải rắn sinh hoạt cũng cần tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở cho việc triển khai thống nhất giữa các địa phương.
Tin liên quan
Tin khác
Từ hạ tầng kinh tế số đến hành lang thanh toán mới của châu Á
Liên kết, mở cực tăng trưởng mới cho miền Trung
Khai thác hiệu quả nguồn lực năng lượng từ biển
AI và dữ liệu tái định hình ngành bảo hiểm
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy năng lực tính toán lượng tử tầm vóc quốc tế
Hạ tầng liên vùng mở thêm không gian cho tăng trưởng
Mở “kho dữ liệu” khoa học quốc gia, kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp
Không để giá đất thành “ẩn số” đầu tư
Thị trường nội địa giữ đà tăng tốc, nhưng còn một số lưu ý



