Tỷ giá ngày 4/8: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm mạnh

10:29 | 04/08/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (4/8), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục có phiên giảm mạnh thì giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua, giá đã giảm mạnh.

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Tỷ giá ngày 3/8: Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ
ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/8

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.166 đồng, giảm 10 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã giảm điểm phiên thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 14 đồng.

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.811 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua, giá đã giảm mạnh.

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.810 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.870 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.020 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.050 VND/USD.

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,040 điểm, giảm -0,030 điểm (-0,03%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh giảm nhẹ và tiếp tục ở về sát mức thấp gần đây so với các loại tiền tệ khác vào sáng nay, khi các nhà đầu tư chờ dữ liệu việc làm của Mỹ để có dự đoán về xu hướng tỷ giá.

Trong khi đó, sức mạnh của thị trường lao động đã nâng đồng đô la New Zealand lên cao, với dự đoán Ngân hàng Trung ương nước này sẽ tăng lãi suất trong vòng vài tuần tới.

Tỷ lệ thất nghiệp của New Zealand bất ngờ giảm xuống 4% trong quý trước, theo dữ liệu vừa được công bố, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2019, điều này đã thúc đẩy đô la New Zealand tăng 0,5% lên mức cao nhất trong một tháng là 0,7056 USD.

“Chúng tôi đã vượt quá tình trạng toàn dụng lao động và nền kinh tế đang trở nên quá nóng”, các nhà phân tích tại ANZ nói và dự báo lãi suất sẽ tăng dần từ mức 0,25% hiện tại lên 1,5% vào giữa năm 2022.

Ở những nơi khác, các loại tiền tệ nhìn chung đều ổn định khi thị trường chờ đợi dữ liệu lao động của Mỹ sẽ được công bố vào cuối ngày và số liệu bảng lương phi nông nghiệp vào thứ Sáu.

Chỉ số bạc xanh hiện đã giảm hơn 1% so với mức đỉnh 15 tuần mà nó đạt được cách đây hai tuần, khi lợi suất trái phiếu và kỳ vọng tăng lãi suất của Mỹ đã giảm xuống, trong bối cảnh các nhà đầu tư đặt câu hỏi về sức mạnh và tốc độ phục hồi của nền kinh tế số một thế giới.

“Xu hướng của bạc xanh là mờ mịt khi kỳ vọng tăng lãi suất của Fed giảm dần và chúng tôi đã thấy bạc xanh đang xác lập xu hướng đi xuống”, chiến lược gia cấp cao của Ngân hàng Quốc gia Australia, Rodrigo Catril, nói và cho biết thêm, hiện trọng tâm của thị trường tỷ giá là dữ liệu việc làm.

“Tất cả chúng ta đều đã thấy sự tiến bộ của thị trường lao động Mỹ, nhưng câu hỏi đặt ra là bao nhiêu mới đủ tốt", ông nói.

Theo một cuộc thăm dò của Reuters, dự kiến ​​dữ liệu bảng lương ADP (dữ liệu do tổ chức tư nhân ADP thực hiện) sẽ cho thấy 695.000 việc làm được tạo ra vào tháng Bảy - gần như ổn định so với một tháng trước đó, và đối với bảng lương phi nông nghiệp của ngày thứ Sáu là 880.000 việc làm sẽ được tạo ra.

Ông Catril cho biết, có thể mất vài tháng liên tục với mức tăng trưởng trên, hoặc thậm chí phải lớn hơn, để giảm tỷ lệ thất nghiệp từ mức hiện tại và đủ để các ngân hàng trung ương lưu ý đến sự thay đổi đó.

Trong khi đó, các đồng tiền trú ẩn an toàn đã được hưởng lợi từ sự suy yếu của bạc xanh, đặc biệt là khi lo lắng về sự lây lan dich COVID-19 do biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2 khiến thị trường tiền tệ thận trọng hơn.

Sau khi giảm kể từ đầu năm, đồng yên Nhật Bản đã tăng khoảng 2,5% so với bạc xanh trong tháng Bảy và hiện đang giữ ở mức 109,06 JPY/USD, sau khi chạm mức cao nhất kể từ cuối tháng Năm ở 108,875.

Đồng franc Thụy Sĩ - đồng tiền trú ẩn an toàn khác - cũng đã đạt mức cao nhất trong bảy tuần ở 0,9036 USD/CHF.

Ở nơi khác, đồng đô la Úc - đồng tiền nhạy cảm với rủi ro - đã không thể phá vỡ ngưỡng kháng cự quanh mức 0,7415 USD, ngay cả sau khi ngân hàng trung ương nước này đã gây bất ngờ cho các nhà đầu tư bằng tuyên bố hôm thứ Ba rằng sẽ thu hẹp dần các biện pháp kích thích. Hiện đô la Úc đang giao dịch ở mức 0,7405 USD, tăng 0,13%.

Đồng bảng Anh tăng nhẹ và giao dịch ở 1,3929 USD, khi nhận trợ lực từ việc dỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế COVID-19 nhờ tỷ lệ tiêm chủng cao.

Sự chú ý của thị trường hiện chuyển sang cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) vào thứ Năm, dự kiến sẽ tập trung vào các phân tích và dự báo kinh tế của các nhà hoạch định chính sách.

“Nếu BoE đưa ra một triển vọng thận trọng hơn thì chúng ta có thể thấy việc tăng lãi suất vào tháng 6/2022 sẽ được cân nhắc lại, và điều này sẽ gây một số áp lực lên đồng bảng Anh", Luke Suddards, chiến lược gia tại công ty Pepperstone nói.

Sáng nay, đồng euro tăng nhẹ và giao dịch ở 1,1872 USD.

ty gia ngay 48 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800