Tỷ giá sáng 25/11: Tỷ giá trung tâm giảm tiếp 2 đồng

09:39 | 25/11/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (25/11), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm 2 đồng thì giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/11
ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong Tỷ giá sáng 24/11: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ 1 đồng

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.669 đồng, giảm nhẹ 2 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ ba liên tiếp với tổng mức giảm là 5 đồng.

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong

Sáng nay, giá bán USD tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giảm 10 đồng so với phiên trước xuống 23.840 VND/USD; giá mua vào USD vẫn tạm để trống.

Trong khi đó, giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở 24.600 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 24.698 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 24.852 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 24.855 VND/USD.

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 105,861 điểm, tăng 0,228 điểm (+0,22%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tăng nhưng vẫn gần mức thấp nhất trong ba tháng và đang hướng đến mức giảm 1% theo tuần, khi thị trường tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giảm tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ ngay trong tháng 12, điều này khiến các nhà đầu tư "phấn chấn" hơn.

Bảng Anh sáng nay giảm nhẹ xuống 1,2100 USD, sau khi tăng hơn 0,5% trước đó, nhưng vẫn gần với mức cao nhất trong hơn ba tháng và đang trên đà tăng gần 2% trong tuần.

Trong khi đó, yên Nhật sáng nay đã giảm 0,18% và giao dịch ở 138,79 JPY/USD, sau khi đã tăng khoảng 0,7% ở phiên trước.

Biên bản cuộc họp tháng 11 của Fed được công bố cho thấy phần lớn các nhà hoạch định chính sách đồng thuận rằng "có thể là thích hợp" để sớm giảm tốc độ tăng lãi suất - thông tin đã khiến bạc xanh lao dốc sau đó.

Việc Fed tăng lãi suất mạnh mẽ và dự đoán của thị trường về mức đỉnh lãi suất ngày càng cao hơn là động lực rất lớn khiến bạc xanh đã tăng 10% trong năm nay.

“Chúng ta có ngày thứ ba liên tiếp chứng kiến tâm lý ưa rủi ro tích cực hơn... Tôi nghĩ rằng điều đó đang khiến bạc xanh giảm khá nhiều...”, Ray Attrill, trưởng bộ phận chiến lược ngoại hối tại Ngân hàng Quốc gia Úc nói.

Biên bản cuộc họp tháng Mười của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho thấy các nhà hoạch định chính sách lo ngại rằng lạm phát có thể đang gia tăng ở khu vực đồng euro. Tuy nhiên, thị trường hiện đang mong đợi một động thái "nhẹ nhàng" hơn của ECB với mức tăng lãi suất 50 điểm cơ bản sau cuộc họp tháng 12.

Sáng nay, euro tăng nhẹ so với bạc xanh lên 1,0413 USD, gần mức cao nhất trong hơn 4 tháng đạt được vào tuần trước.

"Chúng ta sẽ có số liệu lạm phát của khu vực đồng euro vào tuần tới, vì vậy tôi nghĩ rằng chúng sẽ là một phép thử lớn đối với thị trường... Nếu xảy ra điều bất ngờ là lạm phát tiếp tục tăng, thì tôi nghĩ rằng mức tăng lãi suất 75 điểm cơ bản sẽ được thảo luận tại cuộc họp sắp tới", Attrill nói.

Đô la Úc sáng nay giảm nhẹ xuống 0,6761 USD, sau khi tăng hơn 0,4% trước đó; trong khi đô la New Zealand giảm 0,11% xuống còn 0,6257 USD, không xa so với mức cao nhất trong ba tháng mà nó đạt được trong phiên trước đó.

Đô la New Zealand đang hướng tới mức tăng hàng tuần hơn 1,5%, được hỗ trợ bởi việc Ngân hàng Trung ương New Zealand (RBNZ) đã tăng thêm lãi suất 75 điểm cơ bản vào đầu tuần và triển vọng lãi suất tiếp tục diều hâu hơn.

Tại Trung Quốc, thị trường cũng đang theo dõi chặt chẽ việc cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) có thể sắp xảy ra.

Trung Quốc sẽ sử dụng các biện pháp cắt giảm kịp thời RRR, cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác, để giữ thanh khoản thị trường ở mức hợp lý.

“Chúng tôi tin rằng có khả năng Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) có thể cắt giảm RRR thêm 25 điểm cơ bản trong vài tuần tới, hoặc thậm chí vài ngày tới”, các chuyên gia phân tích tại Nomura nói và thêm rằng: "Việc cắt giảm RRR có thể chỉ có tác động tích cực hạn chế, vì chúng tôi tin rằng rào cản thực sự đối với nền kinh tế Trung Quốc hiện nay nằm ở việc các quan chức địa phương quá sốt sắng thực hiện các hạn chế Covid-19".

Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc hiện đang giảm 0,1% so với bạc xanh và giao dịch ở 7,1759 CNY/USD.

ty gia sang 2511 ty gia trung tam giam tiep 2 dong

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000