VEPR: Với kịch bản lạc quan, tăng trưởng GDP năm 2020 có thể đạt 5,3%

15:31 | 17/06/2020

Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) dự báo, với kịch bản lạc quan nhất dịch bệnh được khống chế hoàn toàn và hoạt động kinh tế trở lại bình thường, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự báo có thể đạt 5,3%.     

Ngày 17/6, Hội thảo công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2020 đã diễn ra tại Hà Nội. Bước sang năm thứ 12, Báo cáo thường niên lần này tập trung vào chủ đề “Củng cố điểm tựa tài khóa cho phát triển”, gồm 7 Chương và 2 Phụ lục.

Ba kịch bản kinh tế

Nhận định về năm 2020, VEPR cho rằng, hiện Việt Nam đang ở vị thế tốt hơn so với nhiều quốc gia trên thế giới, do đã kiểm soát được đại dịch Covid-19. Tuy vậy, triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm nay và xa hơn phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnh dịch, không chỉ trong nước mà còn ở cả trên thế giới.

vepr voi kich ban lac quan tang truong gdp nam 2020 co the dat 53
Quang cảnh hội thảo

Với việc Chính phủ dỡ bỏ lệnh giãn cách xã hội từ cuối tháng Tư, VEPR đã nâng mức dự báo về tăng trưởng. Kịch bản lạc quan nhất được xây dựng dựa trên giả định dịch bệnh trong nước được khống chế hoàn toàn vào cuối tháng Tư và hoạt động kinh tế trở lại bình thường. Trong khi đó, thế giới cũng bắt đầu nới dần các biện pháp phong tỏa từ đầu tháng Sáu, giúp các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng tốt trong nửa cuối năm.

Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực du lịch, lưu trú, vận tải hành khách vẫn còn chậm và chỉ dần hồi phục. Tác động xấu nhất của Covid-19 sẽ rơi vào quý II. Với kịch bản này, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự báo có thể đạt 5,3% trong cả năm 2020.

Theo VEPR, những yếu tố có thể hỗ trợ cho tăng trưởng trong phần còn lại của năm có thể kể đến: Hiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam với EU (EVFTA và EVIPA), bắt đầu có hiệu lực từ 1/8/2020; Tiến độ giải ngân và thi công các dự án đầu tư công trọng điểm đang được đẩy nhanh; Chi phí nguyên, nhiên vật liệu duy trì ở mức thấp nhờ nhu cầu tiêu thụ và sản xuất suy giảm trên thế giới; Cơ hội đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư nhằm phân tán rủi ro từ thương chiến Mỹ - Trung, tận dụng các FTAs, lao động giá rẻ, ưu đãi thuế, quản lý môi trường lỏng lẻo của Việt Nam; Môi trường lạm phát ở mức trung bình, tạo điều kiện tốt cho việc thực thi các chính sách vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng.

Dù đã gần như khống chế được dịch bệnh, tuy nhiên, theo như VEPR, việc phục hồi kinh tế là không dễ dàng khi các đối tác của Việt Nam vẫn đang chịu tác động nặng nề của dịch.

“Hiện tại, bên cạnh các nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, điều cần thiết nhất mà Việt Nam nên làm là sắp lại cấu trúc của nền kinh tế nội địa, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch và công bằng để tạo nền tảng bền vững cho tăng trưởng dài hạn”, VEPR khuyến nghị.

Với các kịch bản trung tính và bi quan, bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới được giả định có thể tái bùng phát, và các nước phải kéo dài thời gian phong tỏa sang nửa sau quý III, thậm chí là quý IV/2020.

Khi đó, mức độ tác động của Covid-19 lên các ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ nghiêm trọng hơn. Mức tăng trưởng trong năm 2020 của kinh tế Việt Nam có thể chỉ đạt 3,9% trong kịch bản trung tính, hoặc chỉ là 1,7% trong kịch bản bi quan.

vepr voi kich ban lac quan tang truong gdp nam 2020 co the dat 53
VEPR đưa ra nhiều thông tin khả quan cho nền kinh tế Việt Nam

Dự báo về lạm phát, Báo cáo nhận định, rủi ro lạm phát trung bình, cầu kéo thấp, nhưng rủi ro từ lương thực thực phẩm tăng, rủi ro từ tỷ giá trung bình, đồng thời dự đoán lạm phát 2020 ở mức 3,5%-4%.

Thách thức trong phục hồi kinh tế

Các chuyên gia của VEPR nhận định, Việt Nam đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong một môi trường kinh tế thế giới bất ổn hơn bao giờ hết. Nguy cơ bùng phát làn sóng lây nhiễm Covid-19 lần hai, kèm theo các rủi ro về phong tỏa tổng cầu và đứt gãy chuỗi cung ứng, vẫn đang hiện hữu ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới; xung đột địa chính trị giữa các nước lớn có thể khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam chịu thiệt hại bất kể phần thắng nghiêng về bên nào.

Tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu hay việc làm ngày càng phụ thuộc vào khu vực đầu tư nước ngoài, thậm chí là một số doanh nghiệp FDI; khối doanh nghiệp tư nhân còn phát triển dưới mức tiềm năng và phải chịu nhiều rào cản từ môi trường thể chế và kinh doanh trong nước; không gian chính sách cho chính sách tiền tệ dần bị thu hẹp bởi sức ép lạm phát gia tăng; chính sách tài khóa không tạo nên những thay đổi tích cực trong cơ cấu thu ngân sách, trong khi nợ công cao, thâm hụt ngân sách không nhiều chuyển biến…

“Những nhược điểm này, nếu không sớm được cải thiện, sẽ không chỉ cản trở sự hồi phục trong ngắn hạn, mà còn ảnh hưởng xấu tới sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn”, PGS. TS. Phạm Thế Anh, Chuyên gia kinh tế trưởng VEPR nhấn mạnh.

Để sớm khôi phục kinh tế, VEPR khuyến nghị Chính phủ nên tập trung vào các chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá để đối mặt với bất ổn kinh tế thế giới như: điều chinh tỷ giá linh hoạt, giữ lãi suất ổn định, tiếp tục lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, từng bước xây dựng “đệm tài khóa” thông qua việc tinh giản bộ máy nhà nước, cắt giảm chi tiêu thường xuyên…

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800