VESS: Tăng trưởng 2021 không quá 2%

17:54 | 18/10/2021

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Việt Nam (VESS) vừa đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 với mức tăng GDP có thể đạt 1,8% (kịch bản cao) hoặc 0,2% (kịch bản thấp).

vess hai kich ban tang truong cao nhat khong qua 2 Kinh tế 9 tháng tăng trưởng 1,42%; triển vọng khởi sắc 3 tháng cuối năm
vess hai kich ban tang truong cao nhat khong qua 2 GDP quý III/2021 giảm 6,17%
vess hai kich ban tang truong cao nhat khong qua 2

Trải qua nhiều đợt dịch, đặc biệt là đợt dịch lần thứ tư đã khiến nền kinh tế kinh tế rơi vào rất nhiều khó khăn như: đứt gãy chuỗi cung ứng, xáo trộn thị trường lao động, doanh nghiệp nội địa bị tổn thương nặng nề, chi phí gia tăng… Trong khi đó, các động thái địa chính trị và biến động của kinh tế thế giới có thể tiếp tục làm gia tăng các rủi ro cho yếu tố đầu vào của doanh nghiệp (như giá nguyên, nhiên liệu) và có thể đẩy giá hàng hóa đầu ra tăng trong thời gian tới.

Tại buổi trao đổi mở VESS TALK về kinh tế vĩ mô do VESS tổ chức ngày 18/10, TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VESS nhận định, triển vọng tăng trưởng cả năm nay sẽ phụ thuộc lớn vào các yếu tố: (i) tốc độ và quy mô tiêm chủng vắc-xin; (ii) hiệu quả/phản ứng phụ của các biện pháp phòng chống bệnh dịch; (iii) hiệu quả thực chất của các gói hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng.

Cụ thể, VESS đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế Việt Nam với 2 kịch bản: Ở kịch bản cao, dự báo tăng trưởng GDP đạt mức 1,8%. Trong đó, ngành nông - lâm - thủy sản tăng trưởng ở mức 2,5%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 4%; ngành dịch vụ tăng trưởng 0%.

Kịch bản bày có thể đạt được nếu cả nước thống nhất các biện pháp thích ứng với dịch bệnh và vẫn đảm bảo sản xuất, lưu thông hàng hóa không bị đứt gãy trong quý IV/2021. Đồng thời, các hoạt động sản xuất và tiêu dùng được phục hồi chậm nhưng tích cực. Về y tế, các trung tâm kinh tế hoàn thành kế hoạch tiêm chủng ngay trong nửa đầu quý IV/2021 và tiêm chủng tiếp tục được mở rộng ra các tỉnh trong những tháng cuối năm.

Trong khi đó ở kịch bản thấp, dự báo tăng trưởng GDP có thể chỉ ở mức 0,2%. Trong đó, ngành nông - lâm - thủy sản tăng trưởng ở mức 1,4%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 1%; ngành dịch vụ sẽ tăng trưởng âm 0,7%.

Kịch bản này có thể xảy ra trong trường hợp việc thực thi các chính sách thiếu đồng bộ, dịch bệnh có khả năng tái phát ở một số địa phương, dẫn tới việc phải thực hiện hạn chế đi lại, tình hình chưa cải thiện đáng kể trong năm 2021. Tình trạng “đóng - mở” lặp lại ở một số nơi xuất hiện các ca nhiễm, làm tăng tính bất định cho sản xuất. Điều này có thể khiến các đơn hàng tiếp tục rời khỏi Việt Nam do đứt gãy chuỗi cung ứng, thiếu hụt lao động diễn ra đến hết quý I/2022. Chi phí tăng cao khiến nhiều ngành thu hẹp, nhiều doanh nghiệp tiếp tục đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng.

Để đạt được mức tăng trưởng ở kịch bản cao, Giám đốc VESS cho rằng trong thời gian tới, các chính sách chiến lược cần tiếp tục tập trung vào việc ưu tiên và đẩy nhanh tiến độ, quy mô tiêm chủng vaccine về các địa phương, đảm bảo lưu thông hàng hóa.

Cùng với đó, cần thực hiện các gói tài khóa tập trung vào củng cố hạ tầng, trang thiết bị y tế, lực lượng y bác sĩ, đồng thời hỗ trợ người lao động mất việc (đặc biệt trong khu vực phi chính thức) và yêu cầu lãnh đạo các tỉnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tiếp nhận người lao động trở lại địa phương.

Về tiền tệ, cần thực hiện chính sách tiền tệ thích ứng (đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế nhưng kiểm soát tăng trưởng cung tiền quanh mức 10%) đi kèm các biện pháp kiểm soát rủi ro ở mức vừa phải, không quá chặt chẽ nhưng cũng không được chủ quan, bởi nếu mức cung tiền tăng mạnh trong khi khả năng hấp thụ của nền kinh tế không cao, có thể gây ra lạm phát.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700