World Bank dự báo kinh tế toàn cầu tăng trưởng 2,5% trong năm 2020

14:48 | 09/01/2020

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ tăng nhẹ lên 2,5% trong năm 2020 do đầu tư và thương mại dần khôi phục sau một năm ảm đạm, nhưng rủi ro suy giảm vẫn tồn tại, theo báo cáo Viễn cảnh Kinh tế Toàn cầu tháng 1/2020 vừa được Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố hôm nay, 9/1.

world bank du bao kinh te toan cau tang truong 25 trong nam 2020
Hình minh họa

Trong đó, tăng trưởng tại nhóm các nền kinh tế phát triển được dự báo sẽ giảm xuống 1,4% trong năm 2020, một phần do sản xuất chế tạo và chế biến tiếp tục chững lại. Tăng trưởng ở các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi dự kiến sẽ tăng lên 4,1% trong năm nay.

Báo cáo giữ nguyên dự báo tăng trưởng 2020 của Việt Nam so với dự báo vào tháng 6/2019 cũng được cơ quan này đưa ra. Theo đó, tăng trưởng sẽ ở mức 6,5%.

world bank du bao kinh te toan cau tang truong 25 trong nam 2020
Dự báo tăng trưởng GDP của một số nước Đông Á và Châu Á - Thái Bình Dương

Tuy nhiên, quá trình phục hồi diễn ra không đồng đều, với giả định rằng kinh tế sẽ cải thiện ở một nhóm nhỏ các nền kinh tế lớn, trong đó có một số quốc gia phục hồi sau một giai đoạn suy yếu đáng kể. Tăng trưởng sẽ giảm tốc ở khoảng một phần ba các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi trong năm nay do đầu tư và xuất khẩu yếu hơn so với dự kiến.

“Với việc tăng trưởng ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi dự kiến vẫn thấp, các nhà hoạch định chính sách cần nắm bắt cơ hội để cải cách cơ cấu nhằm đẩy mạnh tăng trưởng toàn diện để giảm nghèo”, Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới, phụ trách về Tăng trưởng công bằng, tài chính và thể chế, Ceyla Pazarbasioglu, nói. “Các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh, thượng tôn pháp luật, quản lý nợ, nâng cao năng suất có thể giúp đảm bảo tăng trưởng bền vững.”

Tăng trưởng của Mỹ theo dự báo sẽ chững lại ở mức 1,8% cho năm nay, do tác động tiêu cực của các động thái tăng thuế quan trước đó và tình trạng bất định gia tăng. Tăng trưởng ở khu vực đồng Euro theo dự báo sẽ trượt dốc xuống mức thấp hơn là 1% vào năm 2020 do các hoạt động công nghiệp yếu đi.

Triển vọng toàn cầu vẫn bị chi phối bởi rủi ro suy giảm. Nếu những rủi ro đó bị hiện thực hóa, chúng sẽ kéo tăng trưởng thấp hơn đáng kể. Đó là những rủi ro về căng thẳng thương mại tái leo thang cùng bất định về chính sách thương mại, suy giảm mạnh hơn dự kiến ở các nền kinh tế lớn, và biến động tài chính ở các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi.

Thậm chí khi tăng trưởng ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi được hồi phục theo dự kiến, tăng trưởng theo đầu người vẫn thấp hơn so với mức bình quân trong dài hạn và thấp hơn nhiều so với mức cần thiết để hoàn thành các mục tiêu về xóa nghèo.

“Lãi suất thấp trên toàn cầu chỉ là cách phòng vệ tạm thời để tránh khủng hoảng tài chính,” theo Giám đốc Nhóm Dự báo Viễn cảnh của Ngân hàng Thế giới, Ayhan Kose. “Lịch sử về các làn sóng nợ trước đây cho thấy những làn sóng đó thường đem lại kết cục không có hậu. Trong môi trường toàn cầu đầy mong manh, cần phải có những cải thiện về chính sách để giảm rủi ro liên quan đến làn sóng nợ hiện nay.”

Ấn bản lần này của báo cáo Viễn cảnh Kinh tế Toàn cầu tập trung vào những chủ đề chính như:

Làn sóng nợ thứ tư

Nợ đã tăng lên trong thời gian qua ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi. Trong 50 năm qua đã có bốn làn sóng nợ. Làn sóng gần đây nhất, bắt đầu từ năm 2010, được coi là làn sóng tăng nợ lớn nhất, mạnh nhất và đồng loạt nhất.

Mặc dù lãi suất thấp hiện nay làm giảm nhẹ một số rủi ro liên quan đến nợ cao, nhưng các làn sóng tăng nợ đồng loạt trước đó đều dẫn đến kết cục khủng hoảng tài chính lan rộng. Các phương án chính sách nhằm giảm khả năng diễn ra khủng hoảng và giảm nhẹ tác động khi khủng hoảng xảy ra bao gồm xây dựng khung chính sách tài khóa và tiền tệ đảm bảo khả năng chống chịu, tạo cơ chế giám sát và quản lý nhà nước chặt chẽ, tuân thủ các thông lệ về quản lý nợ minh bạch.

Hy vọng lu mờ: Làm thế nào để khơi lại tăng trưởng năng suất?

Tăng trưởng năng suất, là nguồn tăng trưởng thu nhập và động lực giảm nghèo chính, đã và đang giảm tốc mạnh và phổ biến hơn kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu so với bất kỳ thời điểm nào trong bốn thập kỷ gần đây.

Tại các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi, tăng trưởng năng suất giảm do những yếu kém về đầu tư, giảm nâng cao hiệu suất và phân bổ nguồn lực giữa các ngành chững lại. Nhịp độ cải thiện ở nhiều động lực chính để tăng năng suất lao động - bao gồm giáo dục và thể chế - đã chững lại hoặc bị đình trệ kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Kiểm soát giá: Dụng ý tốt, kết quả tồi

Các biện pháp kiểm soát giá đang được sử dụng phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi. Mặc dù chỉ đôi khi được sử dụng làm công cụ chính sách xã hội, kiểm soát giá có thể làm suy giảm đầu tư và tăng trưởng, làm xấu đi kết quả giảm nghèo, khiến cho các quốc gia phát sinh gánh nặng tài khóa, làm phức tạp tác động của chính sách tiền tệ trên thực tế.

Thay thế các biện pháp kiểm soát giá bằng hệ thống an sinh xã hội mở rộng và xác định đối tượng tốt hơn, kết hợp với những cải cách nhằm khuyến khích cạnh tranh và môi trường quản lý nhà nước lành mạnh, có thể vừa có tác dụng giảm nghèo vừa thúc đẩy tăng trưởng.

Lạm phát thấp đến bao giờ?

Lạm phát ở các quốc gia thu nhập thấp giảm mạnh xuống mức trung bình 3% vào giữa năm 2019 so với 25% vào năm 1994. Mức giảm đó là nhờ áp dụng các cơ chế tỷ giá linh hoạt, nâng cao sự độc lập của ngân hàng trung ương, giảm nợ của chính phủ, và môi trường bên ngoài an lành hơn.

Tuy nhiên, để duy trì lạm phát thấp và ổn định trong điều kiện áp lực tài khóa tăng kèm theo rủi ro về các cú sốc tỷ giá, các nhà hoạch định chính sách cần tăng cường chính sách tiền tệ và năng lực của ngân hàng trung ương, đồng thời thay thế kiểm soát giá bằng các chính sách hiệu quả hơn.

Báo cáo nhận định, triển vọng của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương sẽ chững còn 5,7% vào năm 2020, do tăng trưởng tại Trung Quốc tiếp tục giảm xuống 5,9% trong năm nay với khó khăn trong nước và bên ngoài tiếp tục diễn ra, bao gồm tác động kéo dài của căng thẳng thương mại.

Tăng trưởng của khu vực, ngoại trừ Trung Quốc, được dự báo sẽ khôi phục nhẹ lên 4,9%, do sức cầu trong nước được hưởng lợi nhờ tình hình tài chính nhìn chung thuận lợi, lạm phát thấp và dòng vốn đầu tư mạnh đổ vào một số quốc gia (Campuchia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam), kết hợp với các dự án hạ tầng công quy mô lớn được đưa vào sử dụng (Philippines và Thái Lan). Tăng trưởng của khu vực cũng được hưởng lợi nhờ giảm bất định chính sách thương mại toàn cầu và thương mại toàn cầu được hồi phục nhẹ, cho dù chưa mạnh.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400