13:00 | 24/05/2019

Cơ hội luôn mở với DN mạnh dạn đổi mới

Trong 4 tháng đầu năm 2019, thủy sản là một trong số ít những mặt hàng nông sản giữ vững được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho biết, với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 694 triệu USD trong tháng 4, tính chung 4 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 2,5 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó xuất khẩu cá tra trong tháng 4 ước đạt 161 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm lên 635 triệu USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2018. Song mặt hàng tôm có xu hướng giảm về kim ngạch xuất khẩu khi tháng 4 chỉ ước đạt 295 triệu USD; lũy kế 4 tháng đạt 913 triệu USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do giá mặt hàng này trên thị trường thế giới vẫn đang thấp do nguồn cung dồi dào trên toàn cầu.

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, những tín hiệu tốt cho ngành thủy sản về cuối năm đang rõ dần. Đó là cơ hội mở ra từ khối thị trường CPTPP. Trong quý I/2019, xuất khẩu thủy sản sang các đối tác của Việt Nam trong CPTPP, tăng trưởng tốt 15% so với cùng kỳ 2018, đạt 502 triệu USD.

Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ được dự báo sẽ khả quan hơn sau khi Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố sơ bộ mức thuế chống bán phá giá cho tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 13 (POR13) đối với 31 DN được hưởng mức thuế 0%. Dù chưa phải là quyết định chính thức, mức thuế này phần nào sẽ giúp việc xuất khẩu tôm sang Mỹ thuận lợi hơn, tăng sức cạnh tranh với Ấn Độ, Thái Lan… Và nếu mức thuế 0% được áp dụng trong phán quyết cuối cùng được đưa ra vào tháng 9/2019 thì đó sẽ là cú hích thật sự cho hoạt động xuất khẩu tôm vào Mỹ trong quý IV/2019 và những năm tiếp theo.

Với cá basa, cuối tháng 4/2019, DOC đã công bố kết quả cuối cùng của đợt xem xét hành chính lần thứ 14 (POR14) đối với các lô hàng cá tra Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ trong giai đoạn từ ngày 1/8/2016 đến 31/7/2017. Mức thuế cuối cùng này tăng cao hơn nhiều so với kết quả sơ bộ đã được công bố hồi tháng 9/2018, song theo ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, các DN xuất khẩu sang thị trường này đã hoàn tất các thủ tục, thanh toán. Trong khi đó, việc Mỹ công nhận Việt Nam đủ điều kiện tương đương xuất khẩu cá da trơn vào thị trường này từ năm 2018 sẽ tiếp tục tác động có lợi đến ngành hàng cá tra Việt Nam.

Riêng với EU, cảnh báo của EU liên quan tới hoạt động khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đã làm ảnh hưởng xuất khẩu thủy sản sang khối thị trường này. Tuy nhiên, việc Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có thể được phê chuẩn vào tháng 6 hoặc tháng 7/2019 sẽ mở ra “chân trời mới” đối với các DN thủy sản Việt Nam nói chung, ngành cá tra nói riêng. Bởi ngay khi hiệp định có hiệu lực, 90% dòng thuế đánh vào các mặt hàng thủy sản xuất khẩu qua EU sẽ giảm về 0% trong 3-4 năm (hiện tại mức thuế nhập khẩu vào EU khoảng 14%).

Mặc dù có những tín hiệu tích cực, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn khi các nước nhập khẩu ngày càng chú ý đến vấn đề an toàn thực phẩm và đưa ra nhiều rào cản phi thuế, giá nhiều mặt hàng giảm do cung vượt cầu, phải cạnh tranh gay gắt… Cùng với sự mở cửa các thị trường CPTPP, là áp lực về nguồn thủy sản nguyên liệu để chế biến và xuất khẩu ngày càng lớn, đặc biệt là các mặt hàng chủ lực.

Vì vậy, việc hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín có khả năng tự chủ cao, có quy trình giám sát chất lượng nghiêm ngặt và tự phát triển kênh phân phối tại các nước nhập khẩu, chủ động nguồn nguyên liệu đang trở thành những mấu chốt nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN cũng như tạo ra cơ hội bứt phá. Ví như VHC, MPC hay IDI là một trong rất ít DN lớn, có khả năng xây dựng hệ thống nuôi trồng, sản xuất khép kín. Nhiều DN đang lấy việc đẩy mạnh các công đoạn có GTGT cao để gia tăng biên lợi nhuận gộp với các sản phẩm collagen, gelatin, tôm tẩm bột, các sản phẩm từ cá… (biên lợi nhuận đạt 40-60%, so với trung bình 10% các sản phẩm truyền thống). Tuy vậy với ngành cá tra thì sản phẩm chế biến đơn giản, đông lạnh phi lê vẫn chiếm hơn 90% tỷ trọng. Tôm Việt Úc, hay MPC, MHC gia tăng lợi thế từ việc đầu tư công sức vào nghiên cứu và cần chủ động hơn trong vấn đề con giống, đây cũng là một phân khúc có lợi nhuận gộp cao.

CTCK Đại Nam nhìn nhận dù ngành thủy sản đang có nhiều diễn biến tích cực và có chiều hướng đi lên. Mặc dù gặp một chút khó khăn về các rào cản thương mại, điều đó vô tình tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các DN lớn trong nước, giúp khẳng định được vị thế, thương hiệu và đang dần có thêm đối tác để chiếm lĩnh thị trường thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.480
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.480
41.750
Vàng SJC 5c
41.480
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750