17:16 | 23/04/2019

Đánh giá của IMF về triển vọng kinh tế thế giới và các vấn đề nổi bật hiện nay

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa phối hợp với Văn phòng Đại diện Thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Triển vọng toàn cầu, giá vật liệu sản xuất và hiệu ứng lan tỏa thương mại”, tại Hà Nội.

Tham dự buổi Tọa đàm về phía Việt Nam có đại diện các vụ, cục NHNN; các đại biểu đến từ các Bộ, ngành và đại diện của các Tổ chức nghiên cứu… Về phía IMF có các chuyên gia quốc tế thuộc Nhóm các tác giả Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (Báo cáo WEO) 2019 của IMF.

Ông Phạm Chí Quang – Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) phát biểu khai mạc

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Phạm Chí Quang – Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, theo thông lệ, hàng năm, sáu tháng một lần, IMF lại cập nhật việc khảo sát để đưa ra Báo cáo về viễn cảnh kinh tế thế giới. “WEO luôn được nhiều tổ chức quốc tế, chuyên gia kinh tế đón chờ và đánh giá cao” – ông Phạm Chí Quang cho biết và nhấn mạnh: “việc chia sẻ nhận định, đánh giá của IMF về triển vọng kinh tế thế giới và các vấn đề nổi bật hiện nay, cũng như các khuyến nghị chính sách liên quan thực sự hữu ích đối với các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô”.

Năm 2018, kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều rủi ro, biến động khó lường từ xu hướng bảo hộ thương mại, lạm phát gia tăng, chính sách tiền tệ phân cực… khiến tăng trưởng chậm lại, tác động đến nhiều quốc gia. Năm 2019, triển vọng tăng trưởng toàn cầu được dự báo tiếp tục chậm lại, đặc biệt tại các quốc gia phát triển.

Theo ông Yannick Timmer – Chuyên gia Kinh tế IMF, động thái điều chỉnh giảm dự báo kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang. Cùng với kịch bản nêu trên, các yếu tố riêng có tại mỗi nước và khu vực kinh tế tiếp tục cản trở động lực tăng trưởng.

Kinh tế Nhật Bản tăng thấp, chủ yếu do thiên tai xảy ra trong quý III/2018. Trái lại, kinh tế Mỹ vẫn duy trì được động lượng và đạt mức tăng trưởng cao, mặc dù hoạt động đầu tư bắt đầu giảm nhẹ trong những tháng cuối năm 2018.

Tại Trung Quốc, GDP giảm từ mức tăng trưởng 6,8% trong sáu tháng đầu năm 2018 xuống 6,0% trong sáu tháng cuối năm 2018, do Chính phủ Trung Quốc phải tiến hành các biện pháp khắt khe để kiềm chế nợ vay, kiểm soát và xử lý tín dụng đen, và chuyển dần sang mô hình tăng trưởng bền vững hơn. Ngoài ra, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung cũng cản trở các hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các nước đối tác tại châu Á và châu Âu.

Tại những thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển (EMDEs) khác, hoạt động kinh tế cũng trầm lắng do tâm trạng thị trường tài chính trong sáu tháng cuối năm 2018 có vẻ xấu đi, khi nhiều nước như Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina phải thắt chặt chính sách để ổn định tài chính, nợ công tiếp tục mở rộng tại Mêhicô, căng thẳng địa chính trị tại các nước Trung Đông.

Trong khi môi trường chính sách bất định ở mức cao và nhu cầu trên toàn cầu được dự báo sẽ giảm tốc, hoạt động sản xuất công nghiệp suy giảm mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong sáu tháng cuối năm 2018 và những tháng đầu năm 2019. GDP toàn cầu được dự báo chỉ tăng 3,3% trong năm nay, trước khi đạt mức tăng trưởng 3,6% vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn dự báo đưa ra hồi tháng 10/2018, trong đó IMF đã điều chỉnh GDP năm 2019 giảm tới 0,4% và GDP năm 2020 giảm 0,1%.

Toàn cảnh tọa đàm

Trên toàn thế giới, tăng trưởng đầu tư đã chậm lại đáng kể kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên, khi so sánh với mức của nó vào đầu những năm 1990, đầu tư thực tế vào máy móc và thiết bị như là một phần của GDP thực tế đã tăng đáng kể. Và sự giảm giá tương đối của hàng hóa đầu tư có thể giao dịch đã tạo ra động lực lớn cho sự gia tăng này.

Đổi lại, sự suy giảm trên diện rộng của giá cả tương đối của máy móc và thiết bị, được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng năng suất nhanh hơn trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật liệu và gia tăng hội nhập thương mại. Tuy nhiên, EMDEs vẫn phải đối mặt với giá tương đối cao hơn của hàng hóa đầu tư có thể giao dịch, phù hợp với chi phí thương mại do chính sách cao hơn của họ và năng suất thấp hơn trong lĩnh vực hàng hóa có thể giao dịch.

Ông Yannick Timmer nhấn mạnh: “Các kết quả của Báo cáo sẽ đưa ra một lập luận bổ sung, hỗ trợ cho các quốc gia trong điều hành chính sách nhằm giảm thiểu tác động của các rào cản thương mại và tái tạo động lực thương mại quốc tế. Đặc biệt, Báo cáo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các tiến bộ công nghệ cùng với xu thế giá hàng hóa vật liệu giảm, tạo ra một làn gió mới mang ý nghĩa quan trọng cho đầu tư toàn cầu”.

Theo ông Johannes Eugster – Chuyên gia Kinh tế IMF, xu hướng tập trung vào quan hệ thương mại song phương đã làm dấy lên lo ngại về những bất cân đối trong quan hệ thương mại giữa các nước và khu vực, có thể làm thay đổi hệ thống thương mại quốc tế. Báo cáo WEO cũng đề cập đến các động lực của cân bằng thương mại song phương, phân biệt giữa vai trò của các yếu tố kinh tế vĩ mô, phân công lao động quốc tế và thuế quan song phương; đồng thời, cũng xem xét ảnh hưởng của thuế quan đến năng suất, sản lượng và việc làm thông qua tác động của chúng đối với cách thức tổ chức sản xuất trong và xuyên quốc gia.

Dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu phản ánh tác động kết hợp của các yếu tố mang tính chu kỳ và dấu hiệu tăng trưởng quay trở lại mức tiềm năng tại các nước phát triển; xu hướng phục hồi thận trọng tại các EMDEs, nhất là tại những nước đã vấp phải tình trạng mất cân đối trầm trọng trong thời gian qua; các yếu tố phức tạp, định hình lại triển vọng và tăng trưởng tiềm năng tại hai nhóm quốc gia này trên toàn thế giới.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.400
Vàng SJC 5c
36.230
36.420
Vàng nhẫn 9999
36.310
36.710
Vàng nữ trang 9999
35.800
36.400