09:26 | 09/03/2018

ECB giữ nguyên lãi suất, song bỏ cam kết có thể mở rộng nới lỏng

NHTW châu Âu (ECB) hôm thứ Năm đã bất ngờ bỏ cam kết có thể mở rộng chương  trình mua trái phiếu hàng tháng nếu cần, cho thấy niềm tin của họ đối với triển vọng lạm phát của nền kinh tế khu vực đồng euro.

ECB giữ nguyên chính sách siêu nới lỏng và các cam kết chính sách
ECB giữ nguyên quan điểm chính sách do lo ngại lạm phát yếu
Năm 2018: Bình thường hóa chính sách tiền tệ là chủ đạo

Cuộc họp chính sách của ECB đã kết thúc hôm thứ Năm với quyết định giữ nguyên các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay thanh khoản và lãi suất tiền gửi tương ứng ở mức 0%; 0,25% và -0,4%. Hội đồng Thống đốc của ECB cũng lặp lại kỳ vọng của họ rằng các mức lãi suất chính sách này sẽ ở mức hiện tại ngay cả khi kết thúc đợt chương trình mua tài sản.

Các nhà hoạch định chính sách ở Frankfurt cũng cho biết, chương trình mua tài sản ròng, với quy mô hiện tại là 30 tỷ euro/tháng (37 tỷ USD), dự kiến sẽ được duy trì cho tới cuối tháng 9, hoặc lâu hơn, nếu cần thiết, và trong bất kỳ trường hợp nào mà Hội đồng Thống đốc nhận thấy sự điều chỉnh bền vững của lạm phát hướng tới mục tiêu mà ECB đề ra.

Tuy nhiên, ECB đã bất ngờ loại bỏ cái gọi là “sự thiên vị nới lỏng”, đó là cam kết mở rộng chương trình mua tài sản cả về quy mô và thời gian nếu triển vọng lạm phát xấu đi.

Phát biểu tại buổi họp báo được tổ chức sau đó, Chủ tịch ECB Mario Draghi cho biết, các nhà hoạch định chính sách của ECB đã nhất trí với việc loại bỏ cam kết mở rộng chương trình mua trái phiếu hàng tháng nếu cần, cái mà ông cũng gọi là “một quyết định lạc hậu”.

Tuy nhiên, ông cungc cho biết, trong bối cảnh hiện nay (lạm phát cơ bản vẫn ở mức thấp), Hội đồng Thống đốc sẽ tiếp tục giám sát những diễn biến tỷ giá hối đoái và điều kiện tài chính liên quan đến những tác động tiềm ẩn của chúng đối với triển vọng lạm phát.

Có thể thấy, sự thay đổi trong tuyên bố của ECB cho thấy, các nhà hoạch định chính sách muốn đặt ra một hướng rõ ràng hơn về việc thoát ra sau 4 năm kích thích bất thường. Tuy nhiên điều đó đã gây ngạc nhiên cho không ít nhà kinh tế vốn dự đoán rằng sẽ không có sự thay đổi trong các chỉ dẫn chuyển tiếp trong bối cảnh những nguy cơ mới xuất hiện đối với triển vọng kinh tế khu vực.

“Đây là bước đi tự nhiên đầu tiên hướng tới bình thường hóa”, Piet PH Christiansen - nhà kinh tế tại Danske Bank A/S ở Copenhagen cho biết. “Đó là một động thái thông minh bởi nó để ngỏ khả năng mở rộng hoặc giảm dần sau tháng 9”.

Sự thay đổi này đã làm lu mờ các chủ đề khác đang làm phức tạp thêm nhiệm vụ của ECB. Đó là kế hoạch của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong việc áp đặt thuế nhập khẩu đối với thép và nhôm từ nước ngoài khiến Mỹ có nguy cơ sẽ bị các đối tác trả đũa, hệ quả là làm tăng khả năng xảy ra một cuộc chiến thương mại toàn cầu. Hay như sự trỗi dậy của chủ nghĩa tẩy chay EU tại cuộc bầu cử ở Ý đã đặt dấu hỏi về triển vọng chính trị của một trong những nền kinh tế lớn nhất và nợ nần nhiều nhất của khu vực đồng euro.

ECB cũng đang sa lầy trong một vụ xì-căng-đan đang diễn ra tại Latvia, dẫn tới việc bắt tạm giam một Thống đốc ngân hàng trung ương vì nghi ngờ tham nhũng và đóng cửa một ngân hàng bị buộc tội có quan hệ với Bắc Triều Tiên. Thành viên Hội đồng Thống đốc Ilmars Rimsevics đã không tham dự cuộc họp vì ông này bị cấm rời khỏi Latvia. Cấp phó của ông là Zoja Razmusa đã phải dự thay.

Đồng euro đã đảo ngược xu hướng giảm hồi đầu phiên và tăng 0,1% lên 1,2421 USD lúc 2h09 chiều, giờ địa phương.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.330 26.969 27.291 30.270 30.755 204,87 213,07
BIDV 23.250 23.330 26.977 27.300 30.290 30.758 205,02 208,45
VietinBank 23.243 23.333 26.916 27.294 30.239 30.799 204,95 208,35
Agribank 23.245 23.325 26.965 27.302 30.314 30.752 205,10 208,34
Eximbank 23.240 23.340 26.980 27.341 30.401 30.807 205,69 208,44
ACB 23.260 23.340 27.000 27.348 30.498 30.814 205,83 208,48
Sacombank 23.254 23.346 27.004 27.363 30.468 30.830 205,87 208,91
Techcombank 23.220 23.330 26.711 27.440 30.045 30.888 204,37 209,70
LienVietPostBank 23.220 23.320 26.906 27.371 30.427 30.846 205,30 209,02
DongA Bank 23.260 23.340 27.990 27.290 30.390 30.770 204,40 208,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.680
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.660
Vàng SJC 5c
36.510
36.680
Vàng nhẫn 9999
34.300
34.700
Vàng nữ trang 9999
33.850
34.650