09:10 | 15/06/2017

Fed tăng tiếp lãi suất và công bố chi tiết kế hoạch thu hẹp bảng tài sản

Fed hôm thứ Tư (14/6) đã quyết định tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay; đồng thời công bố chi tiết về kế hoạch thu hẹp bảng cân đối tài sản khổng lồ của mình. Điều đó cho thấy Fed vẫn rất lạc quan về triển vọng của nền kinh tế, đặc biệt là thị trường lao động.

ECB chuyển một phần dự trữ ngoại tệ bằng USD sang đồng nhân dân tệ
NHTW Nhật sẽ duy trì chính sách và khẳng định chưa thể thoát kích thích
ECB giữ nguyên chính sách, song sẽ không cắt giảm lãi suất hơn nữa
Cục Dự trữ liên bang Mỹ - Fed

Cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày 13-14/6 của Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) đã kết thúc chiều qua với việc Fed quyết định tăng lãi suất cho vay qua đêm thêm 0,25 điểm phần trăm lên khoảng mục tiêu là 1,00 – 1,25%; đồng thời dự báo sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 1 lần nữa trong năm nay và tăng thêm 3 lần nữa trong năm tới.

Đây là lần tăng lãu suất thứ 2 của Fed trong năm nay và lần tăng thứ 3 trong vòng 6 tháng qua.

Điều đó cho thấy Fed vẫn đang rất tự tin với triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế được hỗ trợ bởi thị trường lao động mạnh mẽ cho dù tỏ ra đôi chút lo ngại về lạm phát. Trong báo cáo cập nhật của mình, Fed đã nâng dự báo tăng trưởng của kinh tế Mỹ năm 2017 lên 2,2%, cao hơn so với dự báo được đưa ra hồi tháng 3; tuy nhiên lại hạ dự báo lạm phát năm 2017 xuống còn 1,7%, thấp hơn nhiều mức 1,9% như dự báo trước đó.

Mặc dù vậy, phát biểu tại buổi họp báo sau đó, Chủ tịch Fed Janet Yellen tỏ ra không mấy quan trọng trước áp lực giá cả yếu ớt trong mấy tháng gần đây và tin tưởng rằng sức mạnh của thị trường lao động sẽ thúc đẩy lạm phát đạt được mục tiêu 2% mà Fed đã đề ra. “Điều quan trọng là đừng phản ứng quá mức đối với một số dữ liệu và dữ liệu về lạm phát có thể bị nhiều”, bà nói với các phóng viên.

Yellen cho thấy đang đặt nhiều niềm tin vào thị trường lao động thắt chặt cuối cùng sẽ thúc đẩy tiền lương và lạm phát. “Chúng tôi tiếp tục cảm thấy rằng với một thị trường lao động mạnh mẽ và với một thị trường lao động đang tiếp tục củng cố, điều kiện đã sẵn sàng để lạm phát tăng lên”, bà nói.

Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã giảm xuống mức 4,3% trong tháng 5 – mức thấp nhất trong 16 năm qua và thấp hơn mức mà các nhà hoạch định chính sách cho là bền vững trong dài hạn.
Tuy nhiên, trên thực tế lạm phát đã chậm lại trong những tháng gần đây. Thước đo giá cả yêu thích của Fed chỉ tăng 1,7% trong tháng Tư so với một năm trước, giảm từ mức 1,9% trong tháng Ba và 2,1% trong tháng Hai.

“Rủi ro là Fed quá tự mãn về lạm phát và nhiều hơn là những yếu tố tạm thời khiến cho nó (lạm phát) không tăng, và Fed cũng quá tự tin về sự cải thiện thị trường lao động sẽ chuyển hóa sang tiền lương và lạm phát”, Michael Gapen – Nhà kinh tế trưởng của Mỹtại Barclays Plc ở New York nói.
Các nhà đầu tư dường như cũng không đồng tình với lời giải thích của bà Yellen về việc lạm phát chậm lại trong những tháng gần đây chủ yếu do những yếu tố “một lần” như sự sụt giảm mạnh về chi phí điện thoại di động và giảm giá thuốc theo toa. Theo đó, các nhà đầu tư đã cắt giảm tỷ lệ đặt cược về lần tăng lãi suất thứ ba trong năm nay xuống còn dưới 50% mặc dù các nhà hoạch định chính sách đã nhắc lại kế hoạch đó vào Thứ Tư.

“Có rất nhiều hoài nghi tại phố Wall”, Scott Anderson – Kinh tế gia trưởng tại Bank of the West ở San Francisco nói. “Bạn nhìn vào kỳ vọng lạm phát của thị trường và chúng đang chuyển động ngược với chiều mà Fed muốn chúng di chuyển”.

Trong tuyên bố sau cuộc họp, Fed cũng lần đầu tiên công bố phác thảo rõ ràng đầu tiên về kế hoạch thu hẹp bảng cân đối tài sản của mình. Theo đó cơ quan này dự kiến sẽ cắt giảm danh mục đầu tư (trị giá 4,2 nghìn tỷ USD trái phiếu Chính phủ và chứng khoán thế chấp, phần lớn được mua sau cuộc khủng hoảng tài chính) 10 tỷ USD mỗi tháng, bao gồm 6 tỷ USD trái phiếu chính phủ và 4 tỷ USD chứng khoán thế chấp. Sau đó cứ mỗi 3 tháng, các con số này sẽ tăng lên gấp đôi cho tới khi đạt mức cắt giảm 30 tỷ USD trái phiếu chính phủ và 20 tỷ USD chứng khoán thế chấp mỗi tháng.

Tuy nhiên, Fed không tiết lộ danh mục đầu tư sẽ ở mức nào khi kết thúc chiến dịch này cũng như thời điểm chính xác quá trình này bắt đầu trong năm nay, mặc dù chủ tích Fedc Janet Yellen nói với báo giới rằng nó có thể “tương đối sớm” nếu nền kinh tế tiến triển như mong đợi.

Chứng khoán Mỹ giảm, trong khi giá trái phiếu Kho bạc Mỹ cũng thu hẹp mức tăng sau tuyên bố chính sách của FED. Chỉ số đồng USD tương đối cân bằng so với một giỏ tiền tệ sau khi đảo ngược những mất mát trước đó, trong khi giá vàng giảm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,20
5,90
5,90
6,70
6,80
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
5,50
5,50
5,50
6,90
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.680 22.750 26.629 27.952 30.113 30.596 199,55 203,37
BIDV 22.685 22.755 26.660 26.899 30.397 30.664 201,60 203,35
VietinBank 22.665 22.745 26.651 26.913 30.178 30.600 200,57 203,22
Agribank 22.675 22.745 26.689 29.993 30.180 30.615 199,25 202,43
Eximbank 22.660 22.750 26.483 26.828 30.014 30.405 200,18 202,79
ACB 22.680 22.750 26.428 26.914 30.028 30.504 199,71 203,38
Sacombank 22.674 22.766 26.543 26.905 30.103 30.467 200,22 203,29
Techcombank 22.660 22.760 26.167 27.032 29.637 30.581 198,76 204,08
LienVietPostBank 22.660 22.770 26.552 26.907 30.375 30.677 200,77 203,27
DongA Bank 22.680 22.750 26.450 26.890 29.980 30.470 199,60 203,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.320
36.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.320
36.520
Vàng SJC 5c
36.320
36.540
Vàng nhẫn 9999
34.890
35.290
Vàng nữ trang 9999
34.590
35.290