08:57 | 01/06/2017

Margin lên đỉnh hay chưa?

Một tháng qua, GTGD trên cả hai sàn lên đến 5.000-6.000 tỷ đồng/phiên nên những lo ngại về margin cũng đồng thời xuất hiện...

 

HNX ban hành Bộ nguyên tắc phân bảng UPCoM theo quy mô vốn
Chứng khoán tuần: Blue-chips lấy lại vị thế, thị trường đứng trước cơ hội lớn

Quy mô margin đã tăng mạnh

Kể từ năm 2015 trở về trước, mỗi khi giá trị giao dịch (GTGD) đạt từ 4.000-5.000 tỷ đồng trở lên thì lượng tiền giao dịch ký quỹ (margin) của các công ty chứng khoán (CTCK) thường được cho là tới vùng đỉnh. Không ít lần, sau khi thanh khoản lên đến vùng này thì thị trường chứng khoán cũng bắt đầu những đợt điều chỉnh và giải chấp.

Thanh khoản tăng, cơ hội nhiều vậy nên các nhà đầu tư (NĐT) muốn tận dụng để tìm kiếm lợi nhuận tối đa cũng là chuyện dễ hiểu, và margin là một trong những công cụ hiệu quả nhất. Nhìn chung, thị trường tăng thì margin phải tăng, đó là điều chắc chắn, nhưng lên đến đỉnh hay chưa cần phải xét đến các yếu tố khác nhau.

Sở dĩ thanh khoản có thể lên đến 5.000-6.000 tỷ đồng/phiên, thì ngoài margin còn bắt nguồn từ lượng cung hàng hoá dồi dào. Từ Sabeco (SAB) đến Novaland (NVL) rồi VietjetAir (VJC), và cả Petrolimex (PLX)…, những DN đầu ngành đã lần lượt xuất hiện trên sàn HoSE. NĐT sở hữu những CP này có thể bán ra chốt lãi và tái đầu tư vào những CP khác trên sàn. Chưa kể hàng hoá nhiều cũng thu hút lượng tiền mới chảy vào thị trường.

Nhờ hàng hoá tăng mà dòng tiền trên thị trường cũng tăng. Điều này khác hẳn với những năm trước, thị trường tăng trưởng, nhưng lượng hàng hoá tăng chậm hơn sẽ khiến cho dòng tiền dồn ứ tại một số CP gây ra tình trạng tăng nóng và sau đó là điều chỉnh mạnh.

Năm 2015 thậm chí còn có tin đồn về việc một số CTCK “cạn” margin vì đã cho vay tập trung ở vài CP tăng nóng. Tình trạng này sẽ khó lòng lặp lại trong thời điểm hiện nay khi lượng hàng hoá cực kỳ dồi dào và NĐT có thêm nhiều lựa chọn.

Bên cạnh đó, năng lực cung cấp margin của các CTCK theo thời gian cũng đã tăng lên thông qua các đợt tăng vốn. Mới hơn 1 tháng trước, SSI phát hành 300 tỷ đồng trái phiếu để bơm tiền vào hoạt động kinh doanh và tổng giá trị trái phiếu tính từ đầu năm 2017 mà CTCK này phát hành là 600 triệu đồng. Gần đây, SHS cũng dự kiến phát hành tối đa 600 tỷ đồng trái phiếu có kỳ hạn 2 năm với mục tiêu bổ sung nguồn vốn cho hoạt động margin.

Và còn đó, nhiều CTCK cũng tiến hành tăng vốn điều lệ hoặc phát hành trái phiếu với mục tiêu rất rõ ràng là tăng cường năng lực margin. Khả năng thiếu hụt margin nhờ vậy cũng sẽ được giảm thiểu. Chưa kể khi CTCK này tăng vốn thì CTCK khác cũng sẽ có động thái tương tự để đảm bảo năng lực cạnh tranh, góp phần gia tăng khả năng trên diện rộng thay vì chỉ dừng lại ở một vài đơn vị.

Áp lực ngắn hạn

Các yếu tố kể trên đã cho thấy thực trạng, thanh khoản dù tăng thêm nhưng dòng tiền thực trên thị trường cũng tăng theo và năng lực margin của các CTCK cũng tỷ lệ thuận với tăng trưởng chung để đảm bảo. Dù vậy, quan tâm nhiều về margin chưa bao giờ là thừa, và dựa trên một số diễn biến của thị trường những ngày qua cũng có thể xuất hiện một số tín hiệu cảnh báo.

Đơn cử như phiên giao dịch 30/5, là phiên VN-Index giảm hơn 8 điểm xuống dưới mốc 740 điểm, cũng là phiên giảm mạnh nhất của thị trường tính từ đầu năm nay. Trong phiên này, một loạt CP đã bị bán xuống giá sàn ngay từ đầu phiên với lượng hàng được đẩy ra ào ạt, đáng chú ý là có cả những CP thời gian vừa qua không tăng giá, hoặc tăng chậm, chứ không chỉ riêng gì CP nóng.

Áp lực margin có thể chưa dồn quá nhiều cho thị trường về mặt dài hạn, nhưng riêng lẻ cho từng CP thì có. Với những CP dòng penny hoặc midcap đã tăng trần đến hàng chục phiên thì có khả năng rất cao cũng sẽ được tập trung dòng tiền margin để tranh thủ cơ hội.

Và cũng vì VN-Index đang ở một vùng giá cao nhất trong vòng 9 năm, thì tâm lý lo ngại thị trường tạo đỉnh cũng sẽ xuất hiện và hành động kéo theo đó là bán nhanh, bán gấp nếu có một tín hiệu điều chỉnh xuất hiện.

Tất nhiên, những CP nào tăng nóng, tăng mạnh sẽ bị bán trước tiên để NĐT đảm bảo nguồn vốn, hoặc bảo toàn lợi nhuận đã có được trong thời gian qua. Lực chốt lời cũng sẽ tạo ra áp lực trực tiếp cho những người sử dụng margin nhưng lại tham gia thị trường đoạn sau này.

Những NĐT này thường sẽ có xu hướng sử dụng margin với tỷ lệ cao với mục tiêu tận dụng tối đa cơ hội còn lại (do đã bỏ lỡ những sóng trước đó) và khi chưa kịp có lợi nhuận mà cổ phiếu hoặc thị trường đổi chiều thì việc bán ra để đảm bảo tỷ lệ margin sẽ là giải pháp được thực hiện một cách nhanh chóng.

 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
5,10
5,90
5,90
6,60
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 26.264 26.604 29.117 29.584 200,15 203,97
BIDV 22.700 22.770 26.242 26.549 29.148 29.586 200,84 203,83
VietinBank 22.695 22.775 26.204 26.568 29.081 29.610 200,41 203,94
Agribank 22.680 22.770 26.220 26.550 29.155 29.581 200,69 203,90
Eximbank 22.680 22.770 26.208 26.550 29.219 29.600 201,51 204,13
ACB 22.700 22.770 26.232 26.561 29.318 29.611 201,42 203,95
Sacombank 22.693 22.776 26.282 26.637 29.307 29.664 201,51 204,57
Techcombank 22.685 22.780 26.026 26.618 28.958 29.635 200,24 204,86
LienVietPostBank 22.680 22.770 26.014 26.565 29.327 29.627 199,76 204,13
DongA Bank 22.700 22.770 26.260 26.580 29.270 29.600 201,30 203,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.220
36.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.220
36.420
Vàng SJC 5c
36.220
36.440
Vàng nhẫn 9999
34.250
34.650
Vàng nữ trang 9999
33.950
34.650