15:14 | 14/03/2016

Nhu cầu vàng thế giới tiếp tục giảm nhẹ trong năm 2015

Bất chấp nhu cầu tăng mạnh trong hai quý cuối cùng, tính chung cả năm 2015 nhu cầu vàng toàn cầu vẫn giảm nhẹ 14 tấn xuống còn 4.212 tấn. Nguyên nhân do nhu cầu vàng toàn cầu đã sụt giảm rất mạnh trong nửa đầu năm.

Vàng "nín thở" chờ cuộc họp của Fed
Cầu thấp, vàng hết “kiêu”
Vàng, một “siêu anh hùng” trong năm 2016
Ảnh minh họa

Theo Hội đồng Vàng thế giới (WGC), thị trường vàng đối mặt với khá nhiều trở ngại trong nửa đầu năm 2015. Điều đó thể hiện rõ qua con số nhu cầu vàng trong nửa đầu năm giảm tới 6% so với cùng kỳ năm 2014.

Phân tích các yếu tố dẫn đến sự yếu kém trong nửa đầu năm 2015, theo WGC, đầu tiên phải kể đến là do nhu cầu vàng tại Trung Quốc và Ấn Độ - hai quốc gia tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới sụt giảm mạnh. Với Trung Quốc, nguyên nhân do kinh tế giảm tốc cộng thêm những biến động của thị trường tài chính. Còn với Ấn Độ là do thời tiết bất lợi tại Ấn Độ khiến nhu cầu vàng cho đồ trang sức giảm mạnh.

Trong khi đó nhu cầu đầu tư vàng cũng sụt giảm mạnh trong bối cảnh giá vàng liên tục sụt giảm do tác động của thông tin Fed tăng lãi suất.
Ngoài ra, những bất ổn địa chính trị tại Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông cộng thêm giá dầu giảm cũng tác động bất lợi đến triển vọng kinh tế toàn cầu và qua đó là nhu cầu nắm giữ vàng.

Thế nhưng nửa cuối năm 2015 lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Theo thống kê của WGC, trong nửa cuối năm 2015, nhu cầu vàng toàn cầu đạt tới 2.226,6 tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2014 và tăng 7% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính riêng quý 4/2015, nhu cầu vàng toàn cầu đạt 1.117,7 tấn, tăng 47 tấn (tương đương tăng 4%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhu cầu mua vàng của các ngân hàng trung ương tăng 33 tấn so với cùng kỳ lên 167,2 tấn; kế đó nhu cầu vàng đầu tư cũng tăng 25,3 tấn lên 194,6 tấn. Tuy nhiên, nhu cầu vàng trang sức giảm 6 tấn xuống còn 671,4 tấn; nhu cầu vàng kỹ thuật giảm 5,8 tấn xuống còn 84,5 tấn.

Tuy nhiên tính chung cả năm 2015, nhu cầu vàng toàn cầu vẫn giảm nhẹ 14 tấn xuống còn 4.212 tấn.

Trong đó, nhu cầu vang đầu tư tăng 8% so với năm 2014, đạt 878,3 tấn. Nhu cầu vàng của các NHTW đạt 588,4 tấn, tăng 1% so với năm 2014. Nguyên nhân do các NHTW đẩy mạnh mua vào vàng để đa dạng hóa quỹ dự trữ ngoại hối trong bối cảnh rủi ro kinh tế và địa chính trị gia tăng. Đặc biệt Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã mua vào tới 103,9 tấn vàng trong nửa cuối năm 2015.

Tuy nhiên, nhu cầu vàng trang sức giảm 66 tấn (tương đương giảm 3%) xuống còn 2.414,9 tấn từ mức 2.480,8 tấn của năm 2014. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu vàng trang sức của Trung Quốc đạt 783,5 tấn trong năm 2015, giảm 3% so với năm 2014, do người tiêu dùng nước này cắt giảm chi tiêu để đối phó với những bất ổn của thị trường tài chính và sự sụt giảm tăng trưởng.

Bên cạnh đó, nhu cầu vàng kỹ thuật cũng giảm 5% xuống còn 330,7 tấn nguyên nhân do sức tiêu thụ các sản phẩm có sử dụng vàng chậm chạp, công thêm kinh tế khó khăn buộc các DN phải tìm các nguyên liệu khác để thay thế cho vàng.

Ở chiều ngược lại, cũng theo WGC, tổng nguồn cung vàng trong năm 2015 cũng giảm 4%, chỉ đạt 4.28,3 tấn – mức thấp nhất kể từ năm 2009 do sản lượng khai thác và tái chế sụt giảm mạnh trong quý 4.

Nhu cầu vàng trong 2 năm 2014 - 2015

(Nguồn: WGC)

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.755 22.825 26.511 26.828 30.109 30.591 204,27 208,58
BIDV 22.745 22.815 26.553 26.787 30.307 30.571 206,94 208,80
VietinBank 22.762 22.842 26.451 26.829 30.069 30.829 205,81 209,21
Agribank 22.740 22.820 26.546 26.867 30.239 30.661 205,39 208,59
Eximbank 22.740 22.830 26.345 26.688 30.093 30.484 206,75 209,44
ACB 22.760 22.830 26.282 26.765 30.096 30.572 206,26 210,05
Sacombank 22.767 22.850 26.409 26.771 30.186 30.551 206,86 209,95
Techcombank 22.735 22.835 26.254 26.972 29.874 30.712 205,19 210,67
LienVietPostBank 22.720 22.820 26.440 26.891 30.283 30.516 205,64 209,69
DongA Bank 22.760 22.830 26.350 26.700 30.050 30.510 205,20 209,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.730
Vàng SJC 5c
36.580
36.750
Vàng nhẫn 9999
36.030
36.430
Vàng nữ trang 9999
35.680
36.380