10:06 | 28/12/2017

Nông nghiệp đột phá

có những điểm nhấn trong ngành nông nghiệp ở thời điểm hiện tại được cho là đang hình thành nên những chuyển dịch tích cực.

Gỡ nút thắt cho nông nghiệp công nghệ cao (Kỳ II)
Gỡ nút thắt cho nông nghiệp công nghệ cao (Kỳ I)
Đầu tư nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc “chạy vượt rào” nhiều thách thức

Tại cuộc họp báo cuối năm diễn ra ngày hôm qua, 27/12, Tổng cục Thống kê đã công bố bản báo cáo tràn đầy những con số lạc quan. Đạt mức tăng trưởng 2,9% trong năm nay, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GDP 6,81%, theo ông Dương Mạnh Hùng, Quyền Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê), nông nghiệp một lần nữa cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ.

Ảnh minh họa

Tuy vậy, nhìn lại trong nhiều năm vừa qua, tốc độ tăng trưởng của ngành này luôn không ổn định, liên tục trồi sụt một cách “khó đoán”. Từ đỉnh cao tăng 4,23% vào năm 2011, tốc độ tăng trưởng lĩnh vực nông lâm thủy sản giảm dần xuống mức 2,63% vào năm 2013, để rồi lại vọt lên mức 3,44% trong năm 2014, rồi thấp dần xuống mức 1,36% vào năm 2016, còn năm nay là 2,9%.

Khá nhiều chuyên gia từng tỏ ra băn khoăn về sự trồi sụt này. Với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp kém ổn định không chỉ tác động đến sự ổn định của tăng trưởng kinh tế nói chung, mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân, có khả năng phá vỡ các quy hoạch ngành mà đặc biệt là các quy hoạch về phát triển vùng nguyên liệu, vốn dĩ là cơ sở để tăng cường chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt.

Tuy nhiên, có những điểm nhấn trong ngành nông nghiệp ở thời điểm hiện tại được cho là đang hình thành nên những chuyển dịch tích cực. Theo ông Hùng, điểm đáng chú ý nhất là về sản xuất. nông nghiệp đang có xu hướng dịch chuyển từ sản phẩm thông thường, dạng nguyên liệu thô sang sản phẩm chất lượng cao.

“Rau quả xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính hơn, hay tại Đồng bằng sông Cửu Long người nông dân chuyển từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản cho giá trị gấp nhiều lần… thì đó là hướng đi đúng”, ông Hùng nói với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Trong nhìn nhận của chuyên gia từ Tổng cục Thống kê nói trên, gói tín dụng 100 nghìn tỷ đồng cho vay nông nghiệp công nghệ cao được đưa ra rất kịp thời trong giai đoạn này. Đây có thể là một nhân tố kích thích phát triển nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị nội địa và thúc đẩy ngành này tăng trưởng bền vững hơn.

Và với ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực như vậy, bên cạnh đóng góp tích cực của khu vực sản xuất công nghiệp, với những Samsung, Formosa, Lọc dầu Nghi Sơn, Bình Sơn... “Việt Nam có thể đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới”, Dương Mạnh Hùng hào hứng nói.

Tuy vậy, nông nghiệp không hẳn đã qua hết các thách thức trong phát triển. Hai vấn đề lớn nhất mà ngành này đang phải đối mặt hiện nay là giá nông sản nguyên liệu thấp, và rào cản kỹ thuật từ các thị trường nhập khẩu.

Chẳng hạn với mặt hàng cà phê, theo Bản tin thị trường nông lâm thủy sản số 6 mới được Bộ Công Thương phát hành, phiên giao dịch ngày 14/12/2017, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên chỉ dao động từ 35.500 - 36.300 đồng/kg, giảm khoảng 2,2% so với cuối tháng trước. Với giá cà phê như vậy, theo tính toán thì các nông hộ chỉ “lấy công nhà làm lãi”.

Trong khi đó từ tuần trước, giá hồ tiêu giảm sâu tại hầu hết các tỉnh thành.Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá hạt tiêu trong nước biến động giảm tới gần 50% so với thời điểm cuối năm 2016, do diện tích hồ tiêu trên cả nước vượt quy hoạch dẫn đến cung vượt cầu, trong khi nhu cầu thị trường hạn hẹp. Giá hạt điều cũng đang đứng trước cảnh báo có thể mất tính ổn định hiện nay, do cầu giảm…

Thị trường xuất khẩu cũng không còn toàn thuận lợi với nông sản Việt. Thông tin mới nhất từ Thương vụ Việt Nam tại Úc, trong tháng 11/2017, Bộ Nông nghiệp Úc kiểm soát và xác định 5 lô hàng từ Việt Nam có nguy cơ cao hoặc trung bình cho sức khỏe cộng đồng, gồm 2 lô hàng tôm, 2 lô hàng thịt cua và 1 lô hàng cá basa chế biến.

Những lô hàng nói trên sẽ không được phép bán tại Úc, đồng thời nhà nhập khẩu phải hủy hoặc tái xuất về nước xuất xứ dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng Úc. Đồng thời các lô hàng tiếp theo sẽ bị kiểm tra 100% cho đến khi đạt tiêu chuẩn quy định. Còn trước đó, EU đã “phạt thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam.

Ngay cả với các mặt hàng có tăng trưởng khá về kim ngạch xuất khẩu, việc giữ thị phần cũng đang đặt ra những thách thức mới. Như với mặt hàng rau hoa quả, dù kim ngạch xuất khẩu tăng cao nhưng với thị trường chính là Trung Quốc, thị phần nhập khẩu rau hoa quả của Trung Quốc từ Việt Nam trong 10 tháng năm 2017 đã giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016.

Bức tranh trên cho thấy ngành nông nghiệp đang có những chuyển biến tích cực ban đầu, nhưng vẫn cần tiếp tục điều chỉnh để thích ứng với nhu cầu thị trường, tăng năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị nội địa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.240 23.330 26.251 26.723 29.066 29.532 199,09 206,12
BIDV 23.240 23.330 26.237 26.603 29.105 29.565 202,71 206,19
VietinBank 23.228 23.328 26.199 26.704 29.015 29.575 202,68 206,43
Agribank 23.245 23.330 26.266 26.619 29.078 29.518 203,14 206,63
Eximbank 23.220 23.320 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.240 23.320 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.244 23.336 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.215 23.330 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.275 23.330 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580