09:24 | 27/12/2018

Nông sản sạch gian nan tìm đầu ra

Sản xuất rau sạch có chi phí đầu tư cao, song tìm kiếm thị trường tiêu thụ lại không hề đơn giản...

Đẩy mạnh tiêu thụ nông sản an toàn
Thu hút đầu tư sản xuất nông sản sạch

Ông Nguyễn Công Thừa, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Anh Đào (Anh Đào Co.op) cho biết, hiện HTX đã mở rộng diện tích trồng rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP lên 270 ha, mỗi ngày cung ứng ra thị trường gần chục tấn rau, củ quả sản xuất theo đúng quy trình, quy chuẩn sạch. Ngoài việc liên kết với hộ nông dân để đảm bảo đủ nguồn cung ứng cho thị trường, Anh Đào Co.op còn ký hợp tác bao tiêu sản phẩm với nhiều hệ thống cửa hàng tiện ích, siêu thị ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Cần liên kết chặt chẽ để xây dựng thị trường cho nông sản sạch

Tuy nhiên, để có được như hôm nay, Anh Đào Co.op đã phải trải qua rất nhiều khó khăn để tìm được đầu ra cho sản phẩm rau sạch của HTX. Những ngày đầu, sản phẩm đem đi chào hàng thường bị từ chối do chi phí sản xuất cao nên giá thành có nhỉnh hơn với hàng hóa cùng loại, hơn nữa cũng rất khó để phân biệt rau sạch theo chuẩn VietGAP. Bên cạnh đó, còn phải kể đến việc người dân chưa có thói quen mua và sử dụng rau bán tại các hệ thống phân phối, cửa hàng tiện ích, siêu thị, mà chủ yếu vẫn mua ở các chợ truyền thống, thậm chí ngay tại lòng đường, vỉa hè.

“Thực tế việc trồng rau sạch không khó, khó là ở chỗ người sản xuất có quyết tâm làm theo đúng quy trình kỹ thuật và quan trọng hơn chịu chấp nhận bỏ ra chi phí đầu tư cao hơn thông thường, trong khi việc tìm thị trường tiêu thụ trong bối cảnh hiện tại vẫn còn là cả một bài toán nan giải” – ông Thừa chia sẻ.

Hiện nay, mô hình trồng rau sạch phát triển khá mạnh từ Bắc chí Nam, song không phải nhà sản xuất nào cũng thành công như Anh Đào Co.op. Nhiều nhà sản xuất rau sạch đều phải mò mẫm tự tìm đầu ra cho sản phẩm bằng cách tự xây dựng những mô hình chuỗi cửa hàng phân phối quy mô nhỏ, bán buôn cho các thương lái. Không ít sản phẩm sản xuất theo quy trình sạch nhưng đến khi ra thị trường vẫn phải bán lẫn lộn với các loại rau sản xuất thông thường.

Có thể lấy câu chuyện của một số HTX sản xuất rau sạch tại huyện Tân Thành, tỉnh Long An làm điển hình. Dù được đầu tư bài bản, được cơ quan chức năng kiểm định sản xuất theo đúng quy trình VietGAP, nhưng do khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ, nhiều chủ HTX trồng rau sạch tại địa phương này phải chấp nhận bán sản phẩm cho thương lái với giá ngang bằng với những loại rau trồng thông thường của bà con nông dân để “lấy ngắn, nuôi dài” trong quá trình tìm kiếm đối tác tiêu thụ, phân phối rau sạch ra thị trường.

Trong khi nhiều nhà vườn, HTX trồng rau sạch bí đầu ra như vậy, thì nghịch lý là người tiêu dùng lại rất khó tiếp cận với sản phẩm loại này và đang hàng ngày sử dụng không ít mặt hàng nông sản không đảm bảo chất lượng. Mặt khác, một bộ phận người dân có thu nhập cao, có xu hướng sử dụng thực phẩm, rau quả nhập khẩu cho an toàn vì được kiểm định gắt gao, trong khi đó mức giá không hề rẻ, cao gấp đôi, gấp 3 so với sản phẩm nông sản trong nước.

Số liệu của Bộ NN&PTNT cho thấy, giá trị nhập khẩu mặt hàng rau quả 11 tháng đầu năm 2018 đạt 1,57 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, riêng mặt hàng rau ước đạt 458 triệu USD, tăng 45,4% so với cùng kỳ 2017 và mặt hàng quả ước đạt 1,09 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2017...

Theo nhận định của các chuyên gia, cái khó của thị trường rau sạch chính là sản phẩm chưa xây dựng được thương hiệu, uy tín, không có sự liên kết đầu - cuối từ nhà sản xuất đến DN tiêu thụ, phân phối sản phẩm một cách bài bản ra thị trường. Chính vì vậy, với sản phẩm rau sạch, thị trường đang rất cần, nguồn cung khá dồi dào nhưng lại bị “tắc nghẽn” ở khâu liên kết, cũng như hệ thống phân phối bị đứt gãy.

Vấn đề này cũng là cái khó chung của nhiều sản phẩm nông nghiệp trên thị trường hiện nay. Vì vậy, ngoài việc chú trọng đến quy trình, sản xuất, chất lượng sản phẩm, các nhà sản xuất trong nước cần phải xây dựng một hệ thống phân phối đủ mạnh hoặc liên kết chặt chẽ với các nhà phân phối chuyên nghiệp để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, tránh tình trạng bí đầu ra.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.240 26.976 29.547 30.021 209,79 220,20
BIDV 23.155 23.245 26.226 26.599 29.558 30.026 210,47 214,10
VietinBank 23.143 23.243 26.180 26.970 29.496 30.056 210,46 214,21
Agribank 23.150 23.240 26.216 26.592 29.566 30.023 210,45 214,10
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620