17:29 | 26/06/2019

ODA báo động giải ngân chậm

Giải ngân ODA 5 tháng mới đạt trên 1.000 tỷ đồng, bằng 5,6% kế hoạch; lũy kế hết tháng 5 chưa giải ngân 166.000 tỷ đồng. Giải ngân chậm làm phát sinh chi phí...

Đây là thông tin được đưa ra tại Hội nghị trực tuyến “Thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài năm 2019” do Bộ Tài chính tổ chức sáng ngày 26/6/2019.

Dự án hết thời hạn giải ngân vẫn chưa được bố trí vốn

Bộ Tài chính cho biết, suốt từ năm 2016 đến nay, giải ngân vốn ODA luôn không đạt kế hoạch giao và xu hướng không đạt này đang tăng lên: năm 2016 giải ngân đạt 81% thì đến năm 2018 giảm chỉ còn 53%.

Năm 2019, Quốc hội giao 60.000 tỷ đồng, trong đó đã giao 47.000 tỷ đồng; giải ngân 5 tháng mới đạt trên 1.000 tỷ đồng, bằng 5,6% kế hoạch. Lũy kế hết tháng 5, chưa giải ngân so với kế hoạch ban đầu 166.000 tỷ đồng.

Lãnh đạo Bộ Tài chính chủ trì hội nghị trực tuyến thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA

“Đây là con số rất đáng báo động, giải ngân là vấn đề cấp bách”, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng phát biểu. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, việc tiến độ giải ngân 6 tháng đầu năm rất chậm đòi hỏi biện pháp tháo gỡ để thúc đẩy.

Trong kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn ODA và vay ưu đãi là 360.000 tỷ đồng. Đến năm 2019, con số giao từ dự toán ngân sách Nhà nước giai đoạn 2016-2019 là 244.000 tỷ đồng, số còn lại chưa giao hơn 115.000 tỷ động và chỉ tương đương gần 70% kế hoạch điều chỉnh cả giai đoạn.

Ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, trong 6 tháng đầu năm, ước lũy kế giải ngân vốn nước ngoài 6 tháng cho cấp phát đầu tư phát triển là 2.050 tỷ đồng, đạt 3,42% kế hoạch vốn Quốc hội giao; chi thường xuyên 833 tỷ đồng, đạt 17,85%...

Hiện có 26 khoản vay với tổng giá trị hơn 3,4 tỷ USD ký mới từ năm 2016 đến nay có nhu cầu giải ngân nhưng chưa được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Tình trạng giao kế hoạch vốn chưa đúng, chưa đủ vẫn còn tồn tại, một số dự án đã hết thời gian giải ngân nhưng vẫn được bố trí kế hoạch vốn như dự án xây dựng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội; dự án tăng cường hệ thống y tế tuyến tỉnh ở Thanh Hóa…

Đại diện các nhà tài trợ tham dự Hội nghị trực tuyến thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA

3,4 tỷ USD vay mới cần giải ngân nhưng chưa đưa vào kế hoạch

Giải ngân chậm được Bộ Tài chính cho biết nguyên nhân liên quan đến pháp luật về ngân sách, nợ công, đầu tư công. Kế hoạch đầu tư công năm 2019 phân bổ chậm, tiến độ giao vốn chậm và thiếu điều chỉnh (điều chỉnh dự toán chậm và không kịp thời làm dự án chậm tiến độ mà vẫn không giải ngân được, đặc biệt là tại Hà Nội và TP.HCM); quy trình thủ tục giải phóng mặt bằng, năng lực chủ dự án…

Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới giao kế hoạch bằng 48% kế hoạch vốn Quốc hội giao nên nhiều bộ, ngành, địa phương không có nguồn vốn để giải ngân, trong khi nhu cầu thực hiện các dự án là rất cấp bách.

Bên cạnh đó, việc bố trí vốn thiếu so với kế hoạch và tiến độ triển khai cũng như so với cam kết của các hiệp định vay đang là mối quan tâm của cả chủ dự án và các nhà tài trợ.

Chỉ tính riêng nhóm các dự án của 6 nhà tài trợ phát triển đã có trên 60 dự án chưa được bố trí đủ kế hoạch vốn năm 2019, nhu cầu vốn cần bổ sung là trên 34.000 tỷ đồng.

Nguyên nhân nữa là thủ tục đầu tư. Mọi thay đổi về quy mô, phạm vi, nội dung và sử dụng vốn dư đều cần phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án.

Số dự án phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư nửa đầu năm 2019 là 26 chương trình, dự án. Điển hình là các dự án đường sắt đô thị với tổng vốn đã ký kết gần 4,5 tỷ USD, trong đó có 4/7 dự án đang trong giai đoạn thực hiện điều chỉnh tổng mức đầu tư. Việc bố trí nguồn vào giải ngân cho các dự án này đến nay vẫn đang đình trệ.

“Nếu không có sự chung tay của các bộ ngành, chủ dự án, nhà tài trợ thì khó có thể giải ngân đạt tiến độ”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

“Việc giải ngân chậm sẽ làm phát sinh chi phí, Chính phủ phải trả phí cam kết cao hơn, thậm chí dẫn tới tranh chấp hợp đồng với nhà thầu, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam”, ông Eric Sidgwick, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam  phát biểu. Ông cũng lưu ý, mức độ trung bình giải ngân của Việt Nam chỉ bằng một nửa giai đoạn trước và so với các nước cùng nhận tài trợ từ ADB.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, hiện có 26 khoản vay với tổng trị giá là 3.463 triệu USD ký mới từ năm 2016 đến nay, có nhu cầu giải ngân nhưng chưa được đưa vào Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850