09:08 | 02/01/2019

Rộng cửa cho thoái vốn của doanh nghiệp Nhà nước

NHNN vừa đưa ra dự thảo sửa đổi, bổ sung Thông tư 32/2013 hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Mobifone tiếp tục bán toàn bộ vốn tại TPBank
Cơ hội cho các ngân hàng thoái vốn
Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước: Cần vượt qua tư duy cũ

Lý giải sự cần thiết sửa đổi Thông tư 32, cơ quan soạn thảo Dự thảo chia sẻ, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về việc đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) khi đấu giá cổ phần, NHNN đã rà soát quy định về quản lý ngoại hối hiện hành và nhận thấy hiện đang có vướng mắc của NĐTNN liên quan đến Thông tư 32/2013/TT-NHNN.

Đơn cử, Thông tư 32 chưa có quy định về việc NĐTNN là người không cư trú được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam để tham gia đấu giá mua cổ phần các DNNN khi cổ phần hóa và khi thoái vốn. NĐTNN muốn thực hiện phải được Thống đốc NHNN xem xét, chấp thuận.

Để tháo gỡ vướng mắc, Dự thảo đã bổ sung quy định cho phép người không cư trú là NĐTNN được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ khi tham gia đấu giá mua cổ phần tại DNNN khi cổ phần hoá và DNNN thoái vốn đầu tư tại DN khác. Trường hợp đấu giá không thành công thì NĐTNN được chuyển ra nước ngoài số tiền đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ sau khi đã trừ đi các chi phí phát sinh liên quan. Còn trường hợp trúng đấu giá, NĐTNN thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối và các văn bản hướng dẫn của NHNN để thanh toán giá trị mua cổ phần.

Quy định nêu trên cho phép NĐTNN rút ngắn thời gian và tạo thuận lợi khi tham gia đấu giá, mua cổ phần của DNNN khi cổ phần hóa và khi thoái vốn tại các DN trong nền kinh tế. NĐTNN sẽ không phải thực hiện thủ tục đề nghị chấp thuận của Thống đốc NHNN cho sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư 16/2015/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 32/2013/TT-NHNN như đối với trường hợp trước đây.

Việc sửa đổi này được đánh giá sẽ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho NĐTNN khi tham gia đấu giá các DNNN cổ phần hóa, thoái vốn, góp phần thực hiện kế hoạch sắp xếp cổ phần hóa DNNN theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Trước đó, NHNN cũng đã có ban hành Thông tư hướng dẫn việc xác định vốn nhà nước tại các DN cổ phần hóa là TCTD nhằm tạo điều kiện thủ tục thuận lợi nhất để TCTD nhà nước cổ phần hoá thành công. Agribank là một trong số các DNNN nằm trong danh sách thoái vốn Nhà nước giai đoạn 2016-2020. Hiện tại, Agribank đang là NHTM Nhà nước duy nhất chưa thực hiện cổ phần hoá. Khi thực hiện cổ phần hóa, cũng như 3 ngân hàng BIDV, Vietcombank, VietinBank, Nhà nước chỉ còn nắm giữ 65% vốn điều lệ của Agribank.

Lãnh đạo Agribank cho biết, trong hai năm trở lại đây ngân hàng này đã và đang chuẩn bị các công việc cần thiết để chuẩn bị thực hiện cổ phần hoá. Do Agribank là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, riêng đất đai thuộc quyền quản lý sử dụng của Agribank đã tới gần 3 triệu m2, nguồn gốc hình thành đa dạng nhất. Số lượng khách hàng của Agribank cũng đông nhất với hàng chục triệu khách hàng có quan hệ giao dịch tiền gửi, tiền vay, dẫn tới các khoản phải thu, phải trả cũng nhiều nhất.

Chính vì vậy việc xác định giá của Agribank cũng sẽ phức tạp và mất nhiều thời gian nhất. Trong khi việc tìm kiếm đối tác chiến lược nước ngoài  trong bối cảnh, điều kiện thị trường như hiện nay cũng không dễ dàng gì. Do vậy, quy định mới về sử dụng ngoại hối trên cũng sẽ là cú hích để NĐTNN mặn mà hơn tham gia đấu giá cổ phần hóa DNNN trong đó có Agribank.

Tại Hội nghị triển khai Nghị định 116 mới đây, Phó Tổng giám đốc Agribank bày tỏ mong muốn được tăng vốn, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa để Agribank có thể nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo hệ số an toàn vốn cho ngân hàng này.

Trong khi các ngân hàng khác có thể huy động vốn từ thị trường, thì Agribank hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách vì là ngân hàng 100% vốn nhà nước. Ngân sách thường xuyên trong tình trạng bội chi, nên cũng dễ hiểu tại sao ngân hàng khó được cấp tăng vốn. Cũng chính bởi vốn chủ sở hữu tăng rất chậm, trong khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tăng nhanh, hệ số an toàn vốn (CAR) của Agribank đang mấp mé rủi ro. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của Agribank cũng như sự tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này.

Do vậy, Agribank đang rất cần được tăng vốn cũng như đẩy nhanh cổ phần hóa giúp ngân hàng này không chỉ nhanh chóng tăng vốn, cải thiện hệ số CAR mà còn mở rộng cho vay, nhất là cung ứng đủ vốn cho khu vực nông nghiệp nông thôn, lấy dần lại phong độ.

Đối với vấn đề tăng vốn, không chỉ riêng Agribank mà là áp lực của toàn hệ thống. Một thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia khẳng định: “Năm 2019 sẽ là năm mà áp lực tăng vốn diễn ra “khủng khiếp” nhất với các ngân hàng. Vì chỉ tăng vốn, ngân hàng mới được tăng tín dụng, mới có lợi nhuận xa hơn là đáp ứng được chuẩn Basel II”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700