16:28 | 18/10/2018

Phát triển con người và Xóa đói giảm nghèo:

Thách thức đối với Việt Nam – quốc gia có thu nhập trung bình thấp

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong giảm nghèo đa chiều ở cấp quốc gia, song Việt Nam vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng miền và các nhóm dân cư

Đông Á - Thái Bình Dương là khu vực đạt thành tích tốt nhất về thúc đẩy thịnh vượng chung
Hành động thiết thực, đóng góp to lớn hơn nữa cho công cuộc giảm nghèo bền vững
Cho vay vốn người nghèo là nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội là trách nhiệm cộng đồng

Việt Nam đang có nhiều tiến bộ về Phát triển con người và Giảm nghèo đa chiều nhưng vẫn còn những thách thức trong việc giảm bớt chênh lệch giữa các vùng miền và nhóm dân cư, thu hẹp khoảng cách giới, cũng như giải quyết các vấn đề môi trường liên quan đến phát thải carbon dioxide và đa dạng sinh học.

Đây là thông điệp được Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đưa ra chiều 17/10 khi chia sẻ cập nhật số liệu thống kê của Việt Nam năm 2018 về Các chỉ số Phát triển con người (do Văn phòng Báo cáo Phát triển con người của UNDP công bố ngày 14/9/2018) và số liệu thống kê Nghèo đa chiều toàn cầu (do UNDP và Sáng kiến Nghèo đói và Phát triển con người Oxford, thuộc trường Đại học Oxford, công bố ngày 20/9/2018) và so sánh quốc tế.

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong giảm nghèo đa chiều ở cấp quốc gia, song Việt Nam vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng miền và các nhóm dân cư

Từ tiến bộ ấn tượng

Số liệu thống kê Nghèo đa chiều toàn cầu năm 2018 cho thấy những tiến bộ quan trọng trong việc đạt được Mục tiêu phát triển bền vững số 1 về giảm nghèo. Chỉ số Nghèo đa chiều của Việt Nam là 0,0197, tỷ lệ nghèo đa chiều là 5%, Việt Nam đứng thứ 31 trong tổng số 105 nước, cao hơn hầu hết các nước trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, chỉ sau Thái Lan (0,79%) và Trung Quốc (4,02%).

 “Việt Nam có thể tự hào về tiến bộ đạt được trong giảm nghèo đa chiều, giúp 6 triệu người thoát nghèo trong 4 năm, từ năm 2012 đến năm 2016, theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia”, bà Caitlin Wiesen - Giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam cho biết.

Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam thuộc nhóm Trung bình cao. Với chỉ số 0,694 trong năm 2017, Việt Nam đứng thứ 116 trong tổng số 189 nước (cùng xếp hạng năm 2016). Việt Nam chỉ cần đạt thêm 0,006 điểm để nâng hạng lên mức Phát triển con người cao.Trong chỉ số Phát triển con người, Việt Nam thực hiện tốt trong lĩnh vực Y tế và Giáo dục nhưng tăng trưởng chậm về Thu nhập. Tuổi thọ kỳ vọng của Việt Nam là 76,5 năm, đứng thứ hai ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, sau Hàn Quốc. Số năm đi học trung bình của Việt Nam là 8,2 – cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

“Với chỉ số Phát triển con người tăng 1,41% từ năm 1990, Việt Nam chỉ còn 4 bậc để vào nhóm các nước có mức Phát triển con người cao. Nếu tăng cường nỗ lực giảm chênh lệch giữa các vùng miền và nhóm dân cư, chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ sớm vào nhóm các nước có mức Phát triển con người cao”, Giám đốc quốc gia của UNDP nói.

Thách thức vẫn còn nhiều

Tiến bộ trong Phát triển con người ở Việt Nam đi kèm với mức tăng khá thấp về bất bình đẳng so với các nước trong khu vực châu Á và Thái Bình Dương. Chỉ số bất bình đẳng điều chỉnh theo phát triển con người (IHDI) tương đương với 17,3% giảm giá trị trong chỉ số HDI do bất bình đẳng – thấp hơn tỷ lệ trung bình của nhóm các nước có mức Phát triển Con người Trung Bình (25,1%) nhưng cao hơn tỷ lệ trung bình của khu vực Đông Á và TBD (15,6%). Đây là mức trung bình toàn quốc, còn có sự chênh lệch giữa các vùng miền và các nhóm dân cư. Báo cáo Phát triển con người của Việt Nam năm 2015 chỉ ra khoảng cách lớn về HDI giữa các tỉnh và thành phố. Chẳng hạn TP. HCM và Đà Nẵng có HDI tương đương với các nước thuộc nhóm Phát triển con người cao như Ba Lan và Croatia, trong khi Hà Giang và Gia Lai có HDI bằng với các nước thuộc nhóm Phát triển con người thấp như Ghana và Guatemala.

Về Chỉ số Bất bình đẳng giới (GII), Việt Nam đứng thứ 67 trong tổng số 160 nước, với GII là 0,304, gần với mức trung bình của các nước trong nhóm Phát triển Con người cao (0,289). Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách trong về giáo dục, trong đó có sự khác biệt 11,5% giữa phụ nữ và năm giới trong cấp trung học. Cùng với việc tăng tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học các ngành khoa học, toán, cơ khí và xây dựng (hiện tại là 15,4%), Việt Nam sẽ có thể tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh CMCN 4.0.

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong giảm nghèo đa chiều ở cấp quốc gia, song Việt Nam vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng miền và các nhóm dân cư. Tỷ lệ nghèo đa chiều là 2,1% ở khu vực đô thị trong khi tỷ lệ ở khu vực nông thôn là 6,45%. Tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất ở vùng núi phía Bắc và đồng bằng sông Mekong (9,6%), sau đó là Tây Nguyên (9,4%). Số liệu nghèo đa chiều của trong nước cho thấy chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm dân cư. Tỷ lệ của người Kinh là 6,4% so với 76,2% của người H’ mong, 37,5% người Dao và 24% của người Khmer.

Cập nhật số liệu HDI năm 2018 cũng cung cấp cho các nước số liệu về các lĩnh vực rừng bao phủ, phát thải carbon dioxide và các tỷ lệ tử vong liên quan và đa dạng sinh học. Việt Nam xếp thứ 7 trong tổng số 181 về rừng bao phủ, nhưng xếp trong nhóm thấp nhất về phát thải carbon dioxide (80 trên 189 nước) và Chỉ số danh sách đỏ (165 trên tổng số 189 nước). Đây là những lĩnh vực  mà Việt Nam cần ưu tiên giải quyết.

“Đồng hành cùng những người nghèo nhất để xây dựng một thế giới nơi quyền và nhân phẩm của tất cả mọi người được tôn trọng” là chủ đề của ngày Quốc tế Xóa đói Giảm nghèo (XDGN) năm 2018. Trong thông điệp nhân ngày Quốc tế XDGN 17/10, ông Achim Steiner - Tổng giám đốc UNDP, nhấn mạnh: “1,3 tỷ người vẫn đang sống trong nghèo đa chiều, họ không chỉ nghèo về thu nhập mà còn thiếu thốn về y tế, giáo dục và mức sống. Và họ rất dễ bị bỏ lại phía sau khi bị ốm đau, mất việc hoặc thiên tai. Chủ đề Ngày Quốc tế XDGN năm nay nhắc nhở chúng ta việc đảm bảo tiếp cận những nhu cầu cơ bản như nước, thực phẩm, nơi ở hoặc sự an toàn là tôn trọng quyền và nhân phẩm của hàng triệu người”.

Nguồn :

Các bài mới:

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.380 26.325 26.799 29.491 29.963 202,65 211,15
BIDV 23.290 23.380 26.319 26.690 29.511 29.980 204,51 208,03
VietinBank 23.295 23.395 26.299 26.804 29.462 30.022 204,37 209,12
Agribank 23.285 23.375 26.311 26.664 29.265 29.970 204,50 207,98
Eximbank 23.290 23.390 26.336 26688 29.613 30.009 205,14 207,88
ACB 23.300 23.380 26.347 26.686 29.701 30.008 205,21 207,85
Sacombank 23.307 23.399 26.396 26.757 29.706 30.068 205,24 208,31
Techcombank 23.270 23.380 26.074 26.794 29.279 30.108 203,89 209,18
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.275 26.734 29.640 30.056 204,88 208,57
DongA Bank 23.310 23.390 26.380 26.680 29.640 30.990 203,90 207,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.430
36.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.430
36.590
Vàng SJC 5c
36.430
36.610
Vàng nhẫn 9999
34.810
35.210
Vàng nữ trang 9999
34.460
35.160