14:00 | 05/04/2019

Thẻ thanh toán tự động cho xe buýt còn nhiều hạn chế

Đã gần một tháng kể từ ngày Sở Giao thông TP. HCM thí điểm áp dụng thẻ thanh toán tự động cho xe buýt. Tuy hết sức tiện lợi nhưng nhiều hành khách cho rằng, còn không ít điều cần cải thiện để chiếc thẻ này thật sự "thông minh" và tiện dụng.

Dịch vụ ngân hàng số: Nhu cầu tất yếu
Thanh toán phi tiền mặt cần ngân sách trợ lực
Dồn lực đẩy mạnh thanh toán không tiền mặt

Việc thí điểm sử dụng thẻ xe buýt thông minh của TP.HCM được triển khai trong 12 tháng theo từng giai đoạn. Giai đoạn 1, triển khai từ tháng 3/2019, trên 9 tuyến xe buýt là 86, 50, 55, 30, 93, 59, 68, 69 với 141 phương tiện. Giai đoạn 2 từ tháng 7/2019, triển khai trên 7 tuyến là 10, 18, 28, 45, 54, 91 và 150 với 139 phương tiện. Trong giai đoạn đầu, người dân và các sinh viên được mở thẻ miễn phí tại trường Đại học Tôn Đức Thắng (quận 7) và Trung tâm điều hành xe buýt Sài Gòn (quận 1). 

Có 2 hình thức để hành khách đi xe buýt thanh toán gồm thẻ thông minh (Uni Pass) và mã QR trên ứng dụng điện thoại. Đối với hình thức thanh toán dùng Uni Pass, sau khi thẻ đã được nạp tiền, hành khách chỉ cần lên xe, chạm nhẹ thẻ vào đầu đọc là hoàn thành quy trình thanh toán. Tiền vé sẽ được trừ trực tiếp vào số dư tài khoản của khách hàng.

Còn không ít điều cần cải thiện để thẻ xe buýt thật sự "thông minh" và tiện dụng

Hệ thống được thiết kế để cho một thẻ/một khách hàng chỉ được thanh toán duy nhất 1 lần trên một chuyến xe để tránh trường hợp khách hàng quẹt thẻ nhầm 2 lần trở lên. Ngoài ra, hành khách có thể thanh toán bằng mã QR trên ứng dụng điện thoại (ZaloPay). Để thanh toán, hành khách mở ứng dụng đã đăng nhập sẵn, chọn hình thức vé điện tử mã QR và mã sẽ xuất hiện trên màn hình. Hành khách chỉ cần đặt mã QR này lên thiết bị đầu đọc trên xe buýt.

Một công ty công nghệ và một ngân hàng đã hợp tác đầu tư các giải pháp kỹ thuật, phương án tổ chức và thủ tục dịch vụ thu hộ các doanh nghiệp vận tải xe buýt. Ngành giao thông TP.HCM kỳ vọng đây sẽ là bước đánh dấu cho sự phát triển của ngành giao thông công cộng, nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút người dân sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng, góp phần kéo giảm ùn tắc và tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố.

Tuy tiện ích là vậy, nhưng theo khảo sát, trên nhiều chuyến xe buýt của tuyến 86 Bến Thành - Đại học Tôn Đức Thắng (tuyến áp dụng thẻ thanh toán tự động), lượng hành khách đi tương đối đông nhưng số người dùng thẻ vẫn còn rất ít. Một hành khách cho biết, cũng đã thử dùng thẻ thanh toán tự động cho tiện, nhưng có hạn chế là  việc nạp tiền vào thẻ hiện chỉ mới được thực hiện qua một ngân hàng duy nhất, gây khó khăn cho người dùng. Bên cạnh đó, hiện thẻ cũng chỉ mới thí điểm thanh toán được ở một tuyến duy nhất.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Lèo, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Vận tải TP. HCM (Citranco) - đơn vị triển khai áp dụng thẻ thanh toán, cho rằng do mới áp dụng nên vẫn còn nhiều thiếu sót và bất cập. Công ty sẽ tổng hợp ý kiến của hành khách cũng như rà soát toàn bộ cách vận hành để kiến nghị Trung tâm Quản lý giao thông công cộng TP. HCM xử lý, điều chỉnh.

Theo ông Trần Chí Trung, Giám đốc Trung tâm Quản lý giao thông công cộng TP.HCM, đến thời điểm này đã có hơn 500 thẻ được cấp; trong năm nay sẽ phát triển mở rộng kết nối thanh toán thẻ trên 16 tuyến xe buýt với khoảng 300 phương tiện. Trong thời gian tới, thẻ xe buýt thông minh còn có thể kết nối thông qua các tài khoản trên thiết bị di động với nền tảng công nghệ không tiếp xúc, như công nghệ NFC (Near-Field Communications), công nghệ QR code… Với chiếc thẻ thông minh hoặc sử dụng điện thoại thông minh, hành khách dễ dàng thanh toán tiền đi xe buýt mà không cần phải mua vé giấy như trước đây.

Nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, Trung tâm Quản lý giao thông công cộng cùng với các đối tác, các đơn vị liên quan sẽ hoàn thiện các điều kiện kỹ thuật, quy trình vận hành bảo trì, cùng các nội dung khác cho phù hợp với thực tế và sự phát triển đổi mới công nghệ; báo cáo Sở Giao thông - Vận tải xem xét trình UBND TP. HCM sớm triển khai chính thức hệ thống thanh toán tự động trong giao thông công cộng trên địa bàn thành phố.

Trung tâm quản lý giao thông công cộng TP. HCM vẫn cùng đội ngũ chuyên gia theo dõi vận hành, đánh giá cập nhật thực tế và đề ra các giải pháp kỹ thuật. Bên cạnh đó, xây dựng cấu trúc quản trị của hệ thống phù hợp với điều kiện tại TP. HCM và các quy định hiện hành. “Trong tương lai, thẻ sẽ có nhiều chức năng thanh toán và sẵn sàng tích hợp, mở rộng để tạo thuận lợi tối đa cho người sử dụng”, ông Trung nói.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.450