17:00 | 04/01/2018

Triển vọng kinh doanh ngành Ngân hàng năm 2018: Kỳ vọng sự khởi sắc

Theo kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh mới nhất do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Dự báo, thống kê) tiến hành vào tháng 12/2017, thực trạng và môi trường kinh doanh của đa số các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục có chuyển biến tích cực.

Bản tin kinh tế - tài chính tuần 1 tháng 1/2018
Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng tăng dù NHNN bơm ròng hơn 18 nghìn tỷ
Sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn: Giảm dần là hợp lý

56,3% TCTD nhận định tình hình kinh doanh tại thời điểm hiện tại của họ “tốt” (cao hơn so với tỷ lệ 52,2% cuối quý III/2017 và 54% của cùng kỳ năm 2016), trong đó 11,5% TCTD cho biết tình hình kinh doanh hiện tại “rất tốt”. Đánh giá cho cả năm 2017, 85,5% TCTD nhận định tình hình kinh doanh cải thiện hơn so với năm 2016, trong đó 31,3% TCTD kỳ vọng “cải thiện nhiều”. Dự kiến trong năm 2018, 71,8% TCTD kỳ vọng tình hình kinh doanh trong quý I/2018 cải thiện hơn so với quý IV/2017 và 88,6% TCTD kỳ vọng tình hình kinh doanh của cả năm 2018 tiếp tục cải thiện hơn so với năm 2017, trong đó 29,2% TCTD kỳ vọng “cải thiện nhiều”.

Ảnh minh họa

Hầu hết các TCTD đánh giá các nhân tố nội tại của họ diễn biến ổn định, tích cực trong quý IV/2017 và dự kiến tiếp tục cải thiện trong cả năm 2018. Trong đó, yếu tố được cho là cải thiện tích cực nhất là “Chính sách và dịch vụ chăm sóc khách hàng của TCTD”.

Đánh giá về các nhân tố khách quan, nếu như tại cuộc điều tra cuối năm 2016, các TCTD kỳ vọng nhân tố khách quan “Chính sách tín dụng, lãi suất và tỷ giá của NHNN” được kỳ vọng sẽ được cải thiện mạnh mẽ nhất trong năm 2017 thì tại cuộc điều tra lần này, kỳ vọng của TCTD có sự thay đổi, “Cầu của nền kinh tế đối với sản phẩm dịch vụ của TCTD” là nhân tố được cải thiện mạnh mẽ nhất (chỉ số cân bằng đạt 38,5%), sau đó đến “Điều kiện kinh doanh và tài chính của khách hàng”.

Bình quân kỳ vọng về tăng trưởng lợi nhuận trước thuế năm 2017 của toàn hệ thống ước tính ở mức 15,86%, cao hơn so với mức bình quân kỳ vọng tại cùng kỳ năm trước (8,27%) và mức kỳ vọng 13,63% xác lập tại cuộc điều tra quý trước. Dự kiến trong năm 2018, 92,6% TCTD kỳ vọng lợi nhuận trước thuế của đơn vị tăng trưởng dương so với năm 2017 với mức tăng trưởng toàn hệ thống bình quân kỳ vọng đạt 19,33%, cao hơn nhiều so với mức bình quân kỳ vọng 13,4% của các TCTD tại cuộc điều tra cùng kỳ năm trước.

TCTD tỏ ra lạc quan hơn về mức độ tín nhiệm của khách hàng so với kỳ điều tra trước. 76,3% TCTD nhận định mức độ rủi ro tổng thể của các nhóm khách hàng tại thời điểm cuối năm 2017 ở mức “bình thường”, 15,1% TCTD nhận định ở mức “thấp”, chỉ có 8,6% TCTD nhận định ở mức “cao”, khả quan hơn kết quả ghi nhận tại cuộc điều tra cùng kỳ năm trước (69,5% - 14,6% - 15,8%).

Trong các nhóm khách hàng, khách hàng là TCTD tiếp tục được đánh giá là nhóm có rủi ro thấp nhất, sau đó đến nhóm khách hàng là TCKT và cao hơn là cá nhân. Tổng thể năm 2017, 58,7% TCTD nhận định rủi ro của các nhóm khách hàng tiếp tục “ổn định”, 27,2% TCTD nhận định rủi ro “giảm”, 14,1% TCTD lo ngại rủi ro của các nhóm khách hàng “tăng” so với năm 2016, đánh giá này lạc quan hơn so với kỳ vọng về mức độ rủi ro của khách hàng được xác lập tại cuộc điều tra cùng kỳ năm trước.

Dự báo cho cả năm 2018, 54,1% TCTD kỳ vọng mức độ rủi ro tổng thể của các nhóm khách hàng “ổn định”, 22,9% TCTD dự báo “giảm nhẹ” so với cuối năm 2017, không có TCTD nào dự báo “tăng mạnh”.

Quản lý thanh khoản, xử lý nợ xấu đạt kết quả tích cực. Các TCTD nhận định thanh khoản hệ thống ngân hàng thời điểm hiện tại tiếp tục ở trạng thái “tốt” đối với cả VND và ngoại tệ, và được kỳ vọng tiếp tục duy trì trạng thái tích cực trong cả năm 2018. Dự kiến đến cuối năm 2018, các TCTD tiếp tục kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng được giữ ở mức thấp, bình quân toàn hệ thống kỳ vọng đạt 2,43%, trong đó, hầu hết các nhóm TCTD dự kiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng bình quân của toàn hệ thống đến cuối năm điều chỉnh giảm đáng kể so với cuối năm trước.

Nhu cầu khách hàng tăng rõ rệt

64,5% TCTD nhận định tổng nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng trong quý IV/2017 tăng rõ rệt so với quý III/2017 (tỷ lệ % TCTD nhận định “tăng” cao vượt trội so với các kỳ điều tra trước). Sang năm mới, 59% TCTD kỳ vọng tổng nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tiếp tục tăng trong quý I/2018 và 78,1% TCTD kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng có sự gia tăng trong cả năm 2018 so với năm 2017; trong đó, nhu cầu vay vốn tiếp tục được TCTD kỳ vọng tăng cao.

Theo kết quả điều tra, mặc dù 52,1% TCTD cho biết đã tuyển thêm lao động trong Quý IV/2017 nhưng vẫn có 25,3% TCTD nhận định đang thiếu lao động cần thiết cho nhu cầu công việc hiện tại. Dự kiến sang năm mới 2018, TCTD sẽ tiếp tục tuyển thêm lao động phục vụ cho công việc với 52,1% TCTD dự kiến tiếp tục tuyển thêm lao động trong Quý I/2018 và 68,7% TCTD dự kiến sẽ tăng số lao động trong cả năm 2018.

Tín dụng, huy động tăng trưởng ổn định

Huy động vốn toàn hệ thống TCTD được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 4,46% (VND: 3,39%; ngoại tệ: 1,89%) trong Quý I/2018 và tăng 16,66% (VND: 17,07%; ngoại tệ: 2,76%) trong cả năm 2018. Kết quả trên cho thấy, các TCTD khá lạc quan về triển vọng huy động vốn trong năm 2018.

Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng được kỳ vọng tăng trưởng 4,74% (VND: 5,15%; ngoại tệ: 0,51%) trong Quý I/2018 và tăng 17,65% (VND: 17,71%; ngoại tệ: 7,39%) trong năm 2018.

Nhìn chung theo nhận định của TCTD, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng ổn định trong năm 2017 và được kỳ vọng khởi sắc hơn trong năm 2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.670 22.740 27.704 28.035 31.071 31.570 205,89 209,83
BIDV 22.670 22.740 27.709 27.830 31.091 31.555 206,67 209,76
VietinBank 22.658 22.738 27.649 28.055 31.034 31.594 206,45 209,93
Agribank 22.655 22.730 27.685 28.013 31.098 31.528 20658 20981
Eximbank 22.650 22.740 27.683 28.044 31.176 31.583 207,20 20990
ACB 22.665 22.735 27.701 28.049 31.276 31.589 207,31 209,91
Sacombank 22.660 22.755 27.737 28.100 31.260 31.619 207,25 210,36
Techcombank 22.660 22.750 27.372 28.251 30.828 31.719 205,80 211,31
LienVietPostBank 22.620 22.745 27.633 28.096 31.221 31.636 206,75 210,40
DongA Bank 22.670 22.740 27.710 28.020 31.210 31.560 207,10 209,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.090
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.070
Vàng SJC 5c
36.850
36.090
Vàng nhẫn 9999
36.660
37.060
Vàng nữ trang 9999
36.310
37.010