17:06 | 18/09/2019

Trước thềm VRDF: Quyết định đúng sẽ đạt được mục tiêu và khát vọng

Những kinh nghiệm, giải pháp đề xuất cần được điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn của Việt Nam. Đây là thời điểm quan trọng của Việt Nam. Quyết định đúng, Việt Nam sẽ tiếp tục thành công, sẽ đạt được mục tiêu và khát vọng.

Đây là hàm ý của 12 vị diễn giả chính của Diễn đàn thường niên lần thứ 2 về Cải cách và phát triển VRDF 2019 chia sẻ tại buổi Tọa đàm thảo luận sâu với tổ biên tập Tiểu ban kinh tế - xã hội với chuyên gia quốc tế ngày 18/9/2019.

Buổi tọa đàm được tổ chức nhằm trao đổi sâu về các vấn đề của Việt Nam, các hàm ý chính sách cho Việt Nam nhằm đóng góp cho việc xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2021-2025 của Việt Nam.  

Tại buổi tọa đàm, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã chia sẻ tầm nhìn của Việt Nam: Đến năm 2045 - năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Đến năm 2030 - năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Việt Nam sẽ bước vào hàng ngũ nước có thu nhập cao. 

“Chúng tôi đặt mục tiêu phát triển là trở thành nước công nghiệp hiện đại. Nhưng nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là tụt hậu, thách thức lớn nhất của Việt Nam là vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Chúng tôi muốn được nghe ý kiến, kinh nghiệm và các gợi ý làm thế nào để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước công nghiệp, trở thành quốc gia phát triển”, Bộ trưởng Dũng gợi mở.

Để có được những lời gợi mở sâu sắc, bài học kinh nghiệm đắt giá và mô hình tốt từ các chuyên gia quốc tế, Bộ trưởng Dũng đã thẳng thắn chia sẻ những băn khoăn, những vấn đề lớn của Viêt Nam. Đó là để đạt được mục tiêu vào các năm 2030-2045, Việt Nam phải đạt mức tăng trưởng bình quân 7,5%/năm - một mức cao và khó đạt. Nhưng nếu không đạt được mức tăng trưởng này thì Việt Nam khó trở thành nước công nghiệp, khó trở thành nước thu nhập cao…

Để đạt mục tiêu, Việt Nam xác định 3 đột phá chiến lược là xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng thể chế kinh tế thị trường, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao… Và thêm 2 nội dung đột phá cho giai đoạn tới, đó là phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng Việt Nam đang có những vấn đề như đâu là động lực tăng trưởng, làm sao để tích hợp được bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vào phát triển kinh tế… 

Đau đáu mong được 12 vị chuyên gia chia sẻ sâu sắc, Bộ trưởng Dũng nói: Thực tế thế giới có nhiều nước đã ở mức phát triển như Việt Nam ngày nay, trong đó có nhiều nước đã tạo nên điều thần kỳ vượt lên thành nước thu nhập cao nhưng cũng không ít quốc gia vẫn luẩn quẩn trong thu nhập trung bình.

Đáp lại lời đề nghị và gợi mở của vị Bộ trưởng, 12 vị chuyên gia là các diễn giả chính của VDRF đã nêu lên những ý kiến góp ý. Ông Jan Rielander, Trưởng bộ phận Đánh giá quốc gia đa chiều của OECD đã nói lại những phát hiện cơ bản nhất trong kết quả rà soát đa chiều của Việt Nam. Từ đó đã có những khuyến nghị với Việt Nam.

Theo ông Jan Rielander, dù Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều bài học thành công nhưng trước bối cảnh kinh tế toàn cầu đang thay đổi mạnh mẽ và Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn, thì Việt Nam nên là một nền kinh tế tích hợp. Tích hợp giữa khu vực kinh tế nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân trơng nước. Khi 3 khu vực này liên kết và tương tác được với nhau sẽ tạo ra cơ hội mới.

Đồng thời, cần tạo được đòn bẩy trong giáo dục và đổi mới giáo dục, nâng cao năng suất lao động. Nếu làm được những việc này, thì đến năm 2034 và 2049 Việt Nam sẽ đạt mức bằng của Malaysia hiện nay.

Đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng được yêu cầu phát triển, để tận dụng và phát huy được thời kỳ dân số vàng, tăng năng suất lao động, gắn kết các thành phần kinh tế…  cũng là ý kiến được nhiều vị diễn giả nói lên tại tọa đàm với những gợi mở và kinh nghiệm rất cụ thể.

Tựu chung lại các chuyên gia có lời khuyên: Với Việt Nam, kinh tế tư nhân nội địa phải là xương sống của nền kinh tế, Việt Nam hoàn toàn đạt được mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững nếu sử dụng năng lượng tái tạo, nếu sản xuất hướng đến sản xuất xanh… Việt Nam phải tăng năng suất, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo nhưng tăng năng suất phải ở cả 3 cấp độ: quốc gia – ngành và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, không thể có một công thức chung, không thể có một mô hình áp dụng cho các quốc gia. Mọi kinh nghiệm tốt, bài học đắt giá, mô hình hay và cả những thất bại được nhắc lại…chỉ có tính gợi mở để Việt Nam đưa ra sự lựa chọn và quyết định tốt. Những kinh nghiệm, giải pháp đề xuất cần được điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn của Việt Nam. Đây là thời điểm quan trọng của Việt Nam. Quyết định đúng, Việt Nam sẽ tiếp tục thành công, sẽ đạt được mục tiêu và khát vọng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690