14:00 | 16/05/2019

Việt Nam trở thành “cứ điểm” sản xuất

Theo Bộ Công thương, trong chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, Việt Nam đang dần trở thành một “cứ điểm” sản xuất quan trọng trong thời gian gần đây.

Một thống kê gần đây của CBRE cho thấy, số lượng nhà máy tại Việt Nam trong danh sách nhà cung cấp của Apple đã tăng từ 16 (năm 2015) lên 22 trong năm 2018 và tất cả đều là của các công ty FDI. Cùng với đó, Samsung Electronics Co., Ltd trong năm vừa qua đã thông báo sẽ chấm dứt hoạt động của các nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Trung Quốc. Hiện tại, tỷ lệ nội địa hóa đã tăng từ 34% tổng giá trị sản xuất vào năm 2014 lên 57% vào năm 2017.

“Rõ ràng, điều này đã làm tăng vị thế và uy tín của Việt Nam như một thị trường sản xuất công nghiệp hàng đầu. Sắp tới sẽ tiếp tục là những thời điểm tốt với sự hỗ trợ từ chính quyền, những khuyến khích thương mại và sự quan tâm của doanh nghiệp. Phần còn lại của năm 2019 và cả năm 2020, chúng ta sẽ thấy Việt Nam tiếp tục tăng nguồn cung BĐS công nghiệp”, chuyên gia của CBRE nhận định.

Ảnh minh họa

Theo Bộ Công thương, trong chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, Việt Nam đang dần trở thành một “cứ điểm” sản xuất quan trọng trong thời gian gần đây. Với sự hội tụ nhiều điều kiện tốt như cơ sở hạ tầng phát triển khắp cả nước, trở thành thành viên của nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương; cùng đó là chi phí ngày càng tăng cao tại các địa điểm sản xuất truyền thống như Trung Quốc, đã tạo cho Việt Nam cơ hội thu hút các tập đoàn lớn trên thế giới. Chi phí nhân công cạnh tranh tại Việt Nam hiện là điểm thu hút chính. Lương hàng năm của nhân công sản xuất tại Việt Nam là thấp khi so sánh với thế giới. Nhân công có tay nghề tại Việt Nam có mức lương chỉ bằng một phần ba so với tại Trung Quốc. Hơn thế nữa, Việt Nam còn có một vị trí địa lý chiến lược, góp thêm nhiều giá trị hơn khi so sánh với các quốc gia láng giềng trong Asean như Indonesia, Philippines... Chính vì vậy, Việt Nam đã và đang nhanh chóng chuyển mình thành một quốc gia quy tụ các nhà máy, công ty, tập đoàn sản xuất lớn trên toàn cầu.

“Xung đột thương mại toàn cầu là một chất xúc tác lớn, Trung Quốc đang trên con đường trở thành một quốc gia thu nhập bình quân cao và Việt Nam đang thắt chặt kết nối kinh doanh với các nước. Tuy nhiên, Việt Nam phải biết tận dụng cơ hội từ chi phí sản xuất tăng cao của Trung Quốc cũng như các căng thẳng địa chính trị gần đây để tạo thành động lực và nắm bắt cơ hội này”, các chuyên gia phân tích.

Bên cạnh đó, các thành tố cơ bản tích cực của nền kinh tế như tăng trưởng GDP, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và lạm phát ổn định ở mức thấp đã trở thành những tác nhân chính giúp củng cố cho vị thế cạnh tranh của Việt Nam. Hiện Chính phủ tiếp tục đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng. Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam đang vượt các quốc gia châu Á khác, ngoại trừ Trung Quốc, về ngân sách chi tiêu cho phát triển cơ sở hạ tầng (tính trên phần trăm của GDP). Điều này sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai. Thêm vào đó, các nhà sản xuất hiện có cơ hội tiếp cận tốt hơn đến các thị trường xuất khẩu lớn khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại song phương và đa phương.

Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có 5 hiệp định thương mại trong nội bộ Asean; Đã có 6 cam kết khác được ký giữa Asean và các đối tác bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và New Zealand, bên cạnh 4 hiệp định tự do thương mại song phương khác. Nói cách khác, những hiệp ước này sẽ giúp các nhà sản xuất nước ngoài tổ chức sản xuất tại Việt Nam hiệu quả hơn nữa. Thêm nữa, các tập đoàn sản xuất tại Việt Nam sẽ có lợi thế về thuế khi xuất khẩu sang các nước thuộc các hiệp ước đã được ký kết. Để tiếp tục tiếp sức cho kinh tế Việt Nam, đầu tư vào ngành sản xuất và cơ sở vật chất công nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục cần được ưu tiên. Điều này cho thấy, Chính phủ rất quyết tâm để đưa Việt Nam lên một vị thế đặc biệt như một thị trường sản xuất.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.770
Vàng SJC 5c
41.500
41.790
Vàng nhẫn 9999
41.490
41.940
Vàng nữ trang 9999
40.970
41.770